Home » Featured, Featured @ en, Headline, Headline @en, Tin Thế Giới

Nhã Duy – Hòa ước Doha và cuộc sụp đổ báo trước của Kabul

16 August 2021 84 views No Comment


TRỰC TIẾP
TỪ AFGHANISTAN (BBC) : Taliban hứa hẹn ‘sự yên bình’ cho quốc gia trong video mới

Đặc sứ Zalmay Khalilzad ký hòa ước Doha với lãnh tụ Taliban là Mullah Abdul Ghani Baradar tại Doha, Quatar vào ngày 29 tháng Hai năm 2020. Ảnh trên mạng


Nhã Duy

nguồn: báo Tiếng Dân

Cuối cùng thì kết cục của một cuộc chiến dài nhất mà Mỹ từng can dự và đã từng được dự đoán từ nhiều năm qua cũng đã xảy ra: Kabul thất thủ và quân Taliban đã kiểm soát được Afghanistan để thành lập một tân chính phủ.

Năm 2001, khi tổng thống George W. Bush ra lệnh đưa quân vào Afghanistan trong cuộc chiến chống khủng bố mà Afghanistan đã được trùm khủng bố Bin Laden chọn làm nơi trú ẩn sau vụ khủng bố 9/11, hầu như cuộc chiến đã được đa số dân Mỹ cùng chính khách cả lưỡng đảng ủng hộ.

Nhưng rồi cuộc chiến đằng đẵng 20 năm, qua bốn đời tổng thống – hai Cộng Hòa, hai Dân Chủ, đã làm Hoa Kỳ và người dân Mỹ mệt mỏi với những thiệt hại nhân mạng và phí tổn chiến tranh hơn 2,000 tỉ đô la, gấp đôi kế hoạch tái thiết cấu trúc hạ tầng nước Mỹ vừa được thông qua, trong khi chẳng có lối thoát nào khả dĩ trong tương lai nếu vẫn còn kéo dài. Sớm hay muộn nó phải cần chấm dứt. Và hôm nay nó đã chấm dứt.

Quyết định của tổng thống Joe Biden rút quân khỏi Afghanistan không phải là việc bỏ rơi Afghanistan mà đúng ra, ông chỉ là người cuối cùng dứt khoát thực hiện những kế hoạch chưa thực hiện được của các tổng thống tiền nhiệm, dựa trên lợi ích của nước Mỹ.

Tổng thống Barack Obama đã có ý định rút quân ra khỏi Afghanistan trong các nhiệm kỳ của ông. Năm 2011, đúng 10 năm sau vụ khủng bố 9/11 và Bin Laden đã bị lực lượng đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt trên đất Pakistan, công luận Mỹ đã xem sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Afghanistan là không còn cần thiết, TT Obama đã đưa lộ trình rút quân khỏi Afghanistan cho đến Hè 2016. Các cuộc tấn công của quân Taliban đã làm hoãn kế hoạch của TT Obama vì các cố vấn của ông e ngại chính phủ Afghanistan sẽ không đủ sức chống cự. Khi ông rời nhiệm sở thì quân đội Mỹ còn giữ khoảng 8,400 quân, chủ yếu làm nhiệm vụ cố vấn, huấn luyện và tình báo.

Khi Donald Trump nhậm chức, trong hai năm đầu tiên Trump đã không đưa ra chính sách hay thời hạn kéo dài hay rút quân rõ ràng. Tuy nhiên chính sách của nội các Trump là nhắm đến việc thương lượng với quân Taliban để tìm hòa bình hơn là bảo vệ cho chính phủ Afghanistan thân phương Tây kể từ cuối năm 2018.

Tháng Chín năm 2019, khi Trump thông báo ý định mời các lãnh tụ Taliban sang họp bí mật tại Camp David ngay trước ngày tưởng niệm 9/11 là một điều đầy bất ngờ với thế giới. Ngay cả các dân biểu đảng Cộng Hòa cũng đã phản đối mạnh mẽ việc mời một tổ chức khủng bố không chính danh đến nước Mỹ và họp cùng tổng thống Mỹ. Dân biểu Adam Kinzinger thuộc đảng Cộng Hòa viết, “Không bao giờ cho phép một tổ chức khủng bố và đang tiếp tục làm điều xấu xa đến đất nước vĩ đại chúng ta. Không bao giờ. Ngừng ngay lập tức”. Trump sau đó đã hủy cuộc hội đàm này.

Dẫu vậy, các cuộc thương lượng riêng giữa Hoa Kỳ và Taliban vẫn tiếp tục ngầm diễn ra. Tháng Hai năm 2020, Đặc Sứ Hoa Kỳ riêng vấn đề Afghanistan là Zalmay Khalilzad đã ký hòa ước với lãnh tụ chính trị của Taliban là Mullah Abdul Ghani Baradar dưới sự chứng kiến của Ngoại trưởng Mike Pompeo tại Doha, Qatar mà không có sự tham dự của chính phủ Afghanistan.

Hòa ước Doha (Doha Agreement 2020) cam kết Hoa Kỳ và NATO sẽ rút quân khỏi Afghanistan và ngược lại, Taliban cam kết sẽ không cho khủng bố al-Queda hoạt động trong vùng kiểm soát của mình và mở “đối thoại” với chính phủ Afghanistan. Trump mong muốn đến Giáng Sinh 2020 thì lính Mỹ phải rút khỏi Afghanistan.

Hòa ước Doha chẳng mấy được công luận Mỹ chú ý vì đại dịch Covid ngay sau đó đã làm cả nước Mỹ hốt hoảng và lo đối phó với nó trong suốt cả năm qua, kéo theo là cuộc bầu cử với lắm biến động và gây xáo trộn cho nền dân chủ Hoa Kỳ. Hơn vậy, theo cuộc thăm dò của AP/NORC hồi năm trước, chỉ khoảng 12% dân Mỹ cho biết họ còn để ý ít nhiều đến cuộc chiến Afghanistan và sự hiện diện của lính Mỹ tại đây.

Việc Taliban tiến quân vào Kabul và xem như Afghanistan đã sụp đổ chẳng là điều mấy quan tâm với dân Mỹ bởi họ đã không còn mấy chú ý đến nó như đã nói trên. Hàng chục tỉ đô la đổ vào hàng năm để nuôi một chính phủ và quân đội không có khả năng chiến đấu dù đã được Mỹ viện trợ và huấn luyện suốt nhiều năm qua. Tổng thống và cả nội các Afghanistan là những người đã trốn chạy đầu tiên khi quân Taliban tiến vào Kabul. Họ không sụp đổ hôm nay thì cũng tháng tới, năm tới bởi Mỹ không thể hiện diện mãi mãi tại đây. Đã đến lúc để cho chính người Afghanistan quyết định vận mệnh của dân tộc họ.

Với người Việt Nam, khá dễ hiểu với những cảm xúc hay suy nghĩ khi một số người liên tưởng đến cuộc chiến Việt Nam, cũng đã được giới truyền thông so sánh. Hay với một số người từng ủng hộ Donald Trump, đây là cơ hội để họ tấn công tổng thống Joe Biden là “phản bội” hay “bỏ rơi” đồng minh mà bất cần biết đến lịch sử cuộc chiến ra sao. Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một “đồng minh” của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay.

Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.

Không có cuộc chiến nào giống cuộc chiến nào và thời điểm cùng những mối quan tâm của chính phủ Hoa Kỳ và người dân Mỹ cũng thay đổi theo các giai đoạn cùng tình trạng nước Mỹ khác nhau. Nếu xét lại bốn đời tổng thống thì có lẽ tổng thống Joe Biden là người ít can dự và chịu trách nhiệm nhất vào cuộc chiến Afghanistan hiện nay, ngoài việc ông đã dứt khoát với việc đã quá hạn mà nước Mỹ phải làm từ lâu.

—————————————————-

Afghanistan: Cắt bỏ thủ tục nghịch lý


Tác giả: David Brown

Người dịch: Song Phan


David Brown là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ lâu năm, là người đã chứng kiến ​​sự sụp đổ của Sài Gòn, nhìn về Afghanistan hiện nay.

Vào đầu tháng 4 cách đây 46 năm, các sư đoàn quân đội Bắc Việt đã tràn qua hầu hết miền Nam Việt Nam. Họ đã nhanh chóng tiến sát tới Sài Gòn. Quốc hội Hoa Kỳ không chấp nhận bỏ phiếu viện trợ thêm, thậm chí không yểm trợ không lực. Nhà tôi và tôi biết điều mà cha cô ấy không muốn tin: Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam, sẽ sớm rơi vào tay Cộng sản.

Nhiều ngàn người Việt Nam đang trong tình trạng đặc biệt nguy hiểm. Họ đã từng làm việc với quân đội Mỹ hoặc đã trợ giúp cho các nhân viên người Mỹ làm cứu trợ, phóng viên, giáo viên và huấn luyện viên thực hiện công việc một cách hiệu quả. Bây giờ, về mặt chiến lược và chiến thuật, chế độ Sài Gòn đang tuyệt vọng. Những người bạn Việt Nam thân thiết nhất của Hoa Kỳ, những người đã tin tưởng rằng, với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, họ có thể xây dựng một nước hiện đại và tự do, của Việt Nam, đã bị mắc kẹt trong mớ bòng bong các thủ tục xin thị thực nhập cư.

Lịch sử đang lặp lại ở Afghanistan. Từ Kabul, phóng viên Jane Ferguson đã cho biết ngày 30 tháng 7, rằng “Hệ thống xét đơn xin thị thực của Mỹ cho người Afghanistan vẫn còn giữ nguyên vẹn bài bản và tốn thời gian… Hơn 20.000 người nộp đơn, một nửa trong số họ chưa hoàn thành giai đoạn đầu của quy trình… Cuộc rút quân của Biden ngày càng có vẻ kém kế hoạch, vội vã và hỗn loạn“.

Vào ngày 1 tháng 8 đã xuất hiện một tia hy vọng: Các phương tiện truyền thông đưa tin rằng, Bộ Ngoại giao Mỹ đã mở rộng tiêu chuẩn thị thực nhập cảnh bao gồm thêm nhiều tầng lớp người Afghanistan. Nhưng Nhà Trắng cũng sẽ cắt bỏ các thủ tục rườm rà. Họ sẽ cho phép các nhân viên toà đại sứ cấp giấy thông hành khẩn cấp. Họ có chỉ thị cho Lầu Năm Góc không vận những người tị nạn này ra khỏi tình trạng nguy hiểm không?

Mạng sống của những người bạn Afghanistan thân thiết của Mỹ có thể được cứu vớt nếu Washington hành động mạnh trong khi vẫn còn thời gian – như đã từng làm trước đây.

Tại Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975, chắc chắn không khác ở Kabul bây giờ, các sĩ quan cao cấp của Phái bộ Hoa Kỳ vẫn công khai lạc quan. Lúc đó họ sợ, những bước đi sai lầm sẽ làm mất đi hy vọng ít ỏi còn sót lại, rằng chế độ miền Nam Việt Nam có thể thương lượng một hiệp định đình chiến.

Gần như tất cả những công chức Mỹ và những người phụ thuộc của họ đã được di tản. Chỉ một số ít còn lại, tất cả đều tự nguyện. Với một cái nháy mắt và cái gật đầu từ Washington, họ đã được phép cắt bỏ nhưng thủ tục phiền toái của hệ thống nhập cư Mỹ.

Tôi không biết lệnh gì đã được gửi sau cuộc tham vấn giữa Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi biết rằng trong những tuần cuối cùng trước khi Sài Gòn rơi vào tay quân đội Bắc Việt, những ứng biến về thủ tục của các nhân viên Phái bộ Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho hàng ngàn người Việt Nam di tản; những người mà theo trách nhiệm làm việc của họ, được coi là đang gặp nguy hiểm.

Tin tức về điều này đến với tôi ở Tokyo qua tin hành lang trong Bộ Ngoại giao. Vào ngày 23 tháng 4, tôi đã mua vé máy bay một chiều. Ngay sau khi tôi đang ở trên không, một đồng nghiệp ở Tokyo đã báo với đại sứ rằng – trái với chỉ thị rõ ràng từ Washington – tôi đang trên đường bay đến Sài Gòn. Anh ấy đã trao thư cáo lỗi của tôi.

Sáng hôm sau, tôi tìm đường đến một ‘ngôi nhà an toàn’ – nơi một số viên chức Mỹ đang hoạt động “chuyển lậu người”. Đều là người tình nguyện, họ đang làm hết công suất. Đã bỏ nhiều ngày giờ trong vài tuần, rồi tra cứu danh sách những người Việt Nam được cho là đang gặp nguy hiểm. Hoặc là ‘hướng dẫn’ của Washington đã cực kỳ co giãn, hoặc các anh em viên chức toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã quyết định theo cách phóng khoáng. Những quy tắc phức tạp đã biến mất.

Tôi giải thích mục đích của mình. Ai đó đã tìm thấy tên của cha mẹ vợ tôi và tám anh chị em trong một danh sách. Tôi có thể xin giấy tờ thêm không, tôi hỏi, cho hai con và dâu rể của chị vợ tôi? Trong một vài phút, điều đó đã được thực hiện ngay. Tôi được cấp một xấp giấy tờ mang tên và số căn cước những người thân của vợ tôi đã được đóng dấu.

Mặt trời đang lặn khi một chiếc xe 12 chỗ của toà đại sứ với kính sậm đã chạy qua một số điểm hẹn để đưa người phía bên vợ tôi và tôi đến một khu nhà cố vấn quân sự Mỹ ở sân bay. Chúng tôi nằm chờ ở đó: Marcos, là Tổng thống Philippines lúc đó, đã cấm đưa thêm người tị nạn Việt Nam đến hai căn cứ lớn của Hoa Kỳ ở nước này. Việc không vận đã bị tạm dừng cho đến khi thu xếp được các chỗ tạm trú an toàn khác.

Đến giờ ăn tối ngày hôm sau, ngày 25 tháng 4, những hàng người đang chờ bắt đầu di chuyển trở lại. Đến 10 giờ tối, người phía bên vợ tôi và tôi cùng khoảng 250 người tị nạn khác đã ngồi xếp bằng, nắm chặt những sợi dây căng trên khoang hàng của một chiếc máy bay C-141. Không ai trò chuyện, không một đứa trẻ nào khóc lóc khi máy bay của Không quân Mỹ lao ra đường băng, rồ ga bốn động cơ phản lực và cất cánh theo hướng bay lên dốc nhất. Sáu giờ sau, chúng tôi đã an toàn trên đảo Guam.

Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4. Trong trại ở Orote Point, một nỗi buồn lớn lao xâm chiếm, mỗi người tị nạn đều có những tâm sự riêng vây quanh. Tuy nhiên, câu chuyện của chúng tôi đã kết thúc tốt đẹp. Tái định cư ở California, những người bà con bên vợ tôi nhận làm những công việc mọn, học tiếng Anh và gia nhập vào tầng lớp trung lưu Mỹ. Tôi không bị Bộ Ngoại giao sa thải. Trên thực tế, lúc tôi trở lại công việc của tôi ở đại sứ quán ở Tokyo tôi đã được hoan nghênh với chút khích lệ.

Hơn 50.000 người tị nạn đã thoát khỏi Sài Gòn qua cuộc không vận mà tôi đã mô tả. Trong những năm sau đó, hàng trăm ngàn người khác tìm cách rời khỏi Việt Nam bằng đường biển. Tính đến năm 1983, khoảng 600.000 người Việt Nam đã được nhận vào Mỹ trong tư cách người tị nạn. Nhiều người khác đã được định cư ở Úc, Canada và các nước khác.

Rất ít trong những người Việt Nam đó muốn rời bỏ quê hương. Họ đã chấp nhận nguy hiểm lớn. Hai thế hệ sau, họ và con cái của họ là một tài sản đặc sắc của Hoa Kỳ.

Nếu nước Mỹ cho phép những người Afghanistan là bạn thật của người Mỹ thoát khỏi phe Taliban, thì cùng lắm họ cũng sẽ chỉ là gánh nặng nhất thời, giống như những người tị nạn từ ‘cuộc chiến không dứt’ đầu tiên của chúng ta. Tuy nhiên, hiện nay họ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau, trừ khi, như đã xảy ra cách đây 46 năm, có lệnh cho phép cắt bỏ cách cung cấp visa quá phức tạp và khó thực hiện.

Nếu điều đó xảy ra, chi tiết làm thế nào không thành vấn đề. Tôi chỉ muốn biết rằng một cuộc không vận từ Kabul đang hoạt động ở mức tối đa.

nguồn: Báo Tiếng Dân

David Brown là người thường xuyên đóng góp bài cho Asia Sentinel và Tiếng Dân.

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.