Home » Featured, Featured @ en, Tài Liệu, Tin Hoa Kỳ

Barack Obama: ĐẤT HỨA – A Promised Land (Ch.1-4)

15 December 2020 195 views One Comment

Chuyển dịch: Ian Bùi


Nước Mỹ Của Mi Nè!

Có lẽ nhờ thích đọc sách, không những tôi tốt nghiệp trung học mà khi bước chân vào Occidental College năm 1979 tôi còn mang theo được chút kiến thức mỏng manh và một mớ quan điểm nửa nạc nửa mỡ về chính trị mà tôi nhanh chóng vứt vào sọt rác sau những đêm bàn chuyện trên trời dưới đất trong nội trú.

Sinh viên Obama (trái) tại đại học Occidental đầu thập niên 1980

Giờ nhìn lại, thật mắc cỡ khi nhận ra trong hai năm đầu đại học, sự tò mò tri thức của tôi trùng khớp lạ lùng với sở thích của mấy em sinh viên tôi muốn tìm hiểu: Marx và Marcuse để kiếm chuyện tán cô em xã hội chủ nghĩa chân dài cùng khu nội trú; Fanon và Gwendolyn Brooks cho chị xã hội học với làn da bóng mượt không thèm nhìn tôi nửa mắt; Foucault và Woolf cho nàng thiên tiên lưỡng tính ăn mặc tuyền một màu đen. Chiến thuật ve gái bằng cách đội lốt trí thức của tôi xem ra chẳng hiệu nghiệm gì ráo; rốt cuộc tôi chỉ tìm được một loạt những tình bạn vô cùng … thánh thiện.

Tuy nhiên, những cố gắng lẫm chẫm ấy dường như có lý lẽ riêng của nó: Một cái gì đó gần giống như thế giới quan dần thành hình trong đầu tôi. Cũng may tôi có một vài vị giáo sư giúp mình vượt qua giai đoạn đầu đời này dù biết tôi là một thằng nhóc con háo thắng và lười học. Hơn thế nữa, tôi còn được khai trí nhờ một vài sinh viên lớn tuổi hơn mình — tay da Đen dân ổ chuột thành phố, chàng dân quê da Trắng phải lăn lộn để lên đại học, cậu Mễ con thuộc thế hệ thứ nhất, mấy đứa du học sinh từ Pakistan, Ấn độ, hay một nước Phi châu sắp có biến loạn nào đó. Tất cả đều biết chuyện gì quan trọng đối với mình; khi họ lên tiếng trong lớp, quan điểm của họ bắt nguồn từ những cộng đồng có thật, những cơn bỉ cực có thật. Nếu ngân sách bị cắt giảm, khu xóm của tôi sẽ bị ảnh hưởng như thế này. Trước khi bạn than phiền về chính sách ưu đãi sinh viên thiểu số, để tôi kể bạn nghe về ngôi trường làng của tôi. Tu Chính Án thứ Nhất quả tuyệt vời, nhưng cớ sao chính phủ Hoa Kỳ không nói tiếng nào về tù nhân chính trị ở nước tôi?

Ý thức về chính trị nẩy mầm nơi tôi trong hai năm đầu tại Occidental. Nhưng điều đó không có nghĩa tôi tin tưởng vào chính trị. Hầu hết những gì tôi nhìn thấy nơi các chính trị gia đều bất khả tín: tóc họ chải sấy bóng lưỡng, nụ cười nham hiểm như sói, những câu nói của họ sáo rỗng, trên TV họ bẹo mình bẹo mẩy nhưng sau hậu trường họ tìm mọi cách moi tiền các đại gia, các đại công ty, và bất cứ ai muốn bỏ vốn. Họ là diễn viên trong một trò chơi được sắp sẵn mà tôi không muốn dính dáng gì đến.

Từ trái: John Lewis, Rev. Ralph Abernathy, Dr. Martin Luther King, Jr. và Rev. Andrew Young đi sau quan tài của Jimmy Lee Jackson tại Marion, Ala, 1965. (AP)

Nhưng tôi chú ý tới một thứ khác, nó nằm ngoài những ước lệ sáo mòn nhưng lớn rộng hơn — không phải các cuộc vận động tranh cử mà là những phong trào xã hội, nơi người dân bình thường kết tụ lại để tạo sự thay đổi. Tôi bắt đầu nghiên cứu về phong trào nữ quyền và những người đầu tiên thành lập công đoàn lao động; về Ghandi, Lech Walesa và nhóm African National Congress của Nelson Mandela. Trên hết, tôi lấy cảm hứng từ những nhà lãnh đạo trẻ của phong trào Dân Quyền — không chỉ Martin Luther King Jr. mà còn nào là John Lewis, Bob Moses, Fannie Lou Hamer và Diane Nash. Qua những nỗ lực hết sức thực tiễn của họ — như đi gõ cửa từng nhà để ghi danh cử tri, ngồi xuống bàn ăn nơi người da Đen bị cấm, xuống đường với những bài hát về Tự Do — tôi nhận ra những gì mẹ tôi dạy coi vậy mà khả thi; rằng ta có thể tạo sức mạnh bằng cách nâng người khác lên thay vì đạp họ xuống. Đây mới là dân chủ thực thụ — không phải thứ dân chủ được ban phát từ trên cao hay bởi trò chia chác giữa các nhóm lợi ích, mà là thứ dân chủ mọi người phải bỏ công sức ra mới tậu được. Cái hậu của nó không chỉ là những cải thiện cụ thể trong đời sống mà còn trong phẩm giá của từng cá nhân và cộng đồng, đồng thời tạo nên sự gắn bó giữa những con người trước đây ngỡ chừng xa lạ.

Tôi quyết định, đây mới là lý tưởng đáng cho mình theo đuổi. Tôi chỉ cần chú tâm. Sau hai năm ở Cali, tôi chuyển sang đại học Columbia University để tái khởi sự. Ba năm liền ở New York tôi sống như nhà tu. Tôi thu mình trong căn phòng trọ chật hẹp, xa lánh bạn bè và các thói xấu. Tôi đọc, viết, chép chi chít quyển nhật ký. Tôi tránh hầu hết các cuộc tiệc tùng, nhiều khi tránh cả bữa ăn nóng. Tôi lạc vào thế giới nội tâm, đầu chất đầy những câu hỏi chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp. Tại sao phong trào này thành công mà phong trào kia thất bại? Nếu một bộ phận nào đó của phong trào sáp nhập vào luồng chính trị chủ lưu thì đó có phải chỉ dấu của sự thành công, hay phong trào đã bị cướp? Khi nào thì thoả hiệp chấp nhận được, khi nào bị xem là đầu hàng, và làm sao để phân biệt?

Ôi, thằng tôi lúc ấy nghiêm túc dường nào — mãnh liệt cực kỳ mà cũng hết sức phi hài hước! Ngồi đọc lại những trang nhật ký, tôi thương gì đâu chàng thanh niên là mình thuở ấy, quá nóng lòng sốt ruột thay đổi thế giới, mong mỏi gia nhập một cái gì đó thật lớn, thật lý tưởng, dù nhìn lại xã hội lúc bấy giờ chẳng có gì giống vậy cả. Xét cho cùng, tôi đang sống trong nước Mỹ của đầu thập niên 1980. Những phong trào xã hội của thập niên trước đã nguội tàn. Một làn sóng bảo thủ mới đang trỗi dậy. Ronald Reagan là tổng thống; kinh tế thoái lui; Chiến tranh Lạnh lên cao điểm.

Ronald Reagan tranh cử vào tháng 9, 1980. (James Hughes/NY Daily News)

Nếu có thể quay ngược thời gian, tôi sẽ khuyên chàng thanh niên ấy đặt quyển sách xuống vài phút, mở cửa sổ cho thoáng khí (tật hút thuốc lá của tôi khi ấy đang nở rộ). Tôi sẽ bảo anh ta bớt nghiêm nghị một chút, hãy đi gặp người này người kia, hưởng thụ những gì cuộc đời trao cho ta trong lứa tuổi hai mươi. Vài người bạn ít ỏi của tôi ở New York hồi đó cũng nói:

“Bớt căng thẳng tí đi, Barack.”

“Tao nghĩ mày cần chịch.”

“Cậu lý tưởng lắm. Tốt thôi, nhưng tớ không nghĩ những điều cậu nói khả thi tí nào.”

Tôi luôn cưỡng lại những tiếng nói ấy. Cưỡng lại vì sợ chúng nói đúng. Những điều tôi ấp ủ trong bao ngày tháng đơn độc ấy, viễn cảnh về một thế giới tốt đẹp hơn mà tôi mường tượng trong chiếc đầu non trẻ đầy nhiệt huyết của mình, đều không lọt qua nổi bất cứ một cuộc trắc nghiệm nào khi được mang ra tranh luận. Dưới làn ánh sáng xám xịt của mùa đông Manhattan, với hậu cảnh là bầu không khí yếm thế đang bao trùm mọi thứ, những ý tưởng của tôi, khi thốt ra trước bạn học trong lớp hay tại quán cà phê, nghe thật huyễn hoặc, xa rời với thực tế. Và tôi cũng nhận ra điều đó. Nói đúng hơn, nhờ biết vậy mà tôi đã không biến thành một tên khùng hạng nặng khi mới 22 tuổi. Ở một mức độ nào đó tôi tự thấy mình sao ngớ ngẩn; tôi nhìn ra kẽ hở quá lớn giữa hoài bão của mình và những công việc cụ thể tôi đang làm. Tôi chẳng khác nào một Walter Mitty trẻ tuổi suốt ngày mơ mộng; một Don Quixote không có Sancho Panza.

Tất cả những thiếu sót hay khuyết điểm của mình tôi đều ghi hết vào nhật ký, không thiếu thứ gì. Như chuyện tôi thích cua gái hơn làm việc. Hoặc cái tánh rụt rè có thể đến từ thời thơ ấu lớn lên ở Hawaii hay Indonesia, nhưng cũng có thể vì tôi mang mặc cảm mình không giống ai. Hay nỗi lo sợ bị khước từ hoặc nhìn giống một thằng ngu. Hoạ chăng đơn giản là cái tật làm biếng.

Để vượt qua những yếu mềm của mình, tôi dốc toàn lực vào những cuộc cải tiến bản thân mà tới nay vẫn còn lưu lại trong tư tưởng tôi ít nhiều. (Michelle và hai cô con gái hay chọc mỗi khi vào hồ bơi hay ra biển, tôi lội như lực sĩ đang luyện tập. “Sao Ba không đùa với nước thôi, vui lắm. Đây … để con chỉ cho nè,” chúng vừa nói vừa cười khúc khích.) Tôi liệt kê mọi thứ. Tôi siêng năng tập thể dục. Tôi chạy bộ như điên, vòng quanh hồ chứa nước của Central Park hay dọc bờ sông East River. Để nạp năng lượng, tôi ăn cá mòi hộp và trứng luộc. Tôi cho hết đồ đạc không cần thiết — có ai cần hơn năm cái áo?

Central Park Reservoir, postcard.

Hồ chừng tôi đang chuẩn bị cho một cuộc tỉ thí quan trọng nào đấy, mặc dù chẳng biết nó là cái gì. Tôi chỉ biết mình chưa sẵn sàng. Nhưng nhờ nghi ngại và thiếu tự tin, tôi không chấp nhận một cách dễ dàng bất cứ câu trả lời nào. Tôi tập tự vấn mọi giả định của mình; thói quen này giúp tôi rất nhiều. Không những nó ngăn tôi trở thành một con người cau có khó chịu, nó còn chủng ngừa cho tôi tránh lây nhiễm các cuộc cách mạng theo công thức của thành phần cực tả trong buổi bình minh của triều Reagan.

Chắc chắn điều ấy có thật khi bàn về nạn kỳ thị màu da. Bản thân tôi cũng từng bị gọi bằng những từ ngữ không mấy hay ho, và mỗi khi đi ngang những khu da Đen như Harlem hay Bronx tôi không thể không nhìn thấy di sản của chế độ nô lệ hay các đạo luật Jim Crow còn lưu dấu. Nhưng có lẽ nhờ nguồn gốc khác thường của mình, tôi không cho phép mình đóng vai nạn nhân một cách dễ dàng, tôi cũng không đồng ý với quan niệm của nhiều người da Đen tôi biết, rằng dân da trắng kỳ thị tận xương vô phương cứu chuộc.

Và cũng vì trong thâm tâm tôi tin rằng nạn kỳ thị chủng tộc không phải là một thực tại không thể tránh khỏi, tôi bảo vệ tới cùng ý niệm về Hoa Kỳ nguyên thuỷ: một nước Mỹ ngày xưa và một nước Mỹ khả dĩ.

Baby Barry và mẹ tại Hawaii

Ông bà ngoại và mẹ tôi không thuộc loại người yêu nước ồn ào. Đọc lời Thệ nguyện Trung thành trong lớp hay vẫy lá quốc kỳ nho nhỏ vào dịp Quốc Khánh được xem như những nghi thức dễ thương chứ không là nghĩa vụ thiêng liêng (Giáng Sinh và Phục Sinh cũng thế). Việc ông ngoại phục vụ trong quân đội thời Đệ Nhị Thế Chiến cũng không được khoa trương; ông kể tôi nghe nhiều về phần ăn K-Ration — “Thật khủng khiếp!” hơn là vinh hạnh được hành quân dưới tướng Patton.

Nhưng, niềm tự hào là người Mỹ và Hoa Kỳ là quốc gia vĩ đại nhất trên mặt đất — điều đó đương nhiên, miễn bàn. Thời còn trẻ tôi không thích những quyển sách xem nhẹ sự phi thường của nước Mỹ; tôi tranh luận hàng giờ với đám bạn vì chúng dám cho rằng một nước Mỹ bá chủ thiên hạ là nguồn gốc khiến nhiều dân tộc bị đàn áp khổ sở. Tôi từng sống ở nước ngoài; tôi đã thấy quá nhiều thứ. Tôi biết không phải lúc nào nước Mỹ cũng cao thượng và lý tưởng như người ta mong muốn. Tôi cũng không thể nào biện hộ cho các bộ sách giáo khoa mang tiếng dạy lịch sử nhưng kể rất ít về chế độ nô lệ và hoàn toàn không nhắc gì đến chuyện thổ dân da Đỏ bị tàn sát. Tôi cũng không lạ gì các cuộc phiêu lưu quân sự dẫn đến bao nhiêu sai lầm đáng tiếc. Tôi biết chứ. Biết rõ là khác.

Tuy nhiên, tôi vẫn bám víu vào khái niệm mang tên Hiệp Chủng Quốc, vào lời hứa gọi là Nước Mỹ bằng một thái độ lì lợm đến tôi còn phải ngạc nhiên. “Chúng ta tin rằng đây là những sự thật hiển nhiên, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng” — đó mới là nước Mỹ của tôi. Nước Mỹ được mô tả bởi Tocqueville; nước Mỹ của những cánh đồng trong thơ văn Whitman và Thoreau, nơi không có ai hèn kém hoặc thượng đẳng hơn tôi; nước Mỹ của những người Tây tiến tiên phong tìm cuộc sống mới, của di dân đặt chân lên đảo Ellis, thúc đẩy bởi mơ ước tự do.

Nó là nước Mỹ của Thomas Edison và anh em nhà họ Wright đã cho phép giấc mơ bay cao; của một Jackie Robinson da Đen đã dám ăn cắp “home base” trong một trận bóng chày của người da trắng. Của Chuck Berry và Bob Dylan, của Billie Holiday tại Village Vanguard jazz club, của Johnny Cash tại trại tù Folsom State Prison. Của những người bị đời ruồng bỏ, đi lượm lặt những mảnh vụn người khác chê bai hoặc không nhìn thấy để tạo nên những tuyệt tác có một không hai.

Từ trái: Em gái cùng mẹ khác cha, Maya Soetoro-Ng, mẹ của Barack, và Auma Obama.

Nó là nước Mỹ của Abraham Lincoln tại Gettysburg, của Jane Addams lao động trong các khu dân sinh ở Chicago, của những binh lính mệt lả trên bãi biển Normandy, của Dr Martin Luther King trước quảng trường quốc gia National Mall, triệu tập lòng can đảm từ đám đông và từ chính mình.

Nó là bản Hiến Pháp và Những Quyền Căn Bản được biên soạn bởi những cái đầu lỗi lạc nhưng bất toàn, kiến tạo một hệ thống chính quyền vừa vững chắc vừa có khả năng tự thay đổi.

Một nước Mỹ có thể giải thích được sự hiện hữu của cái thằng tôi.

Ừ, mơ tiếp đi, Barack.” Đó thường là câu kết trong các cuộc tranh luận giữa tôi và đám bạn khi một thằng khốn kiếp nào đó bỗng chơi khăm, quẳng tờ báo xuống trước mặt tôi với hàng tít: Hoa Kỳ tấn công Grenada, ngân sách chương trình ăn trưa cho học sinh nghèo bị cắt, hay một mẩu tin nào đó thật là đáng chán… “Nước Mỹ của mi nè!”

“A Promised Land”, pp. 10-14 (ianbui dịch)

Vietopian blog

One Comment »

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.