Home » Bình Luận, Featured, Featured @ en, Headline, Headline @en, Thời Sự, Tin Cộng Đồng

Hoàng Ngọc Nguyên: NHỮNG CHUYỆN NĂM HẾT TẾT ĐẾN

20 January 2020 109 views No Comment

Năm hết, Tết không hẹn cứ đến. Đó là qui luật chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ.
Ở quê nhà, người ta biết Tết đến mà không cần nhắc nhở.
Trên chốn đất khách quê người này, thực ra, người ta cũng chẳng cần xem lịch. Sau mùa Giáng Sinh, trời càng thêm lạnh, tuyết càng rơi nhiều, không gian ủ dột, nặng nề, u ám, người ta có thể bảo: Tết sắp đến! Giữa hay cuối tháng giêng dương lịch, người ta đã có thể nghĩ Tết cận kề. Năm âm lịch ít ngày hơn năm dương lịch, nhưng nhờ cứ vài năm lại có một năm nhuận 13 tháng gỡ lại, cho nên từ trước đến nay không khi nào Tết ta lại đến trước Tết tây.

Thực ra, chẳng thế nào không biết đã đến lúc chuẩn bị cúng kiến đón ông Táo bà Táo. Hội Cao Niên Người Việt Utah đã gởi thơ thông báo Ngày Tết Người Già. Và có người quen đã hỏi anh chị năm nay muốn đặt mấy đòn bánh tét. Ngẫm nghĩ lại, bánh tét, bánh chưng, mứt khoai, mứt gừng, mứt bí, dưa hấu An Tiêm … là những thứ không thể thiếu được trên bàn thờ và bàn ăn trong ba ngày Tết.

Ở thành phố hồ muối này, hình như người ta không làm bánh chưng. Còn ở các chợ, bánh chưng nhỏ, chỉ hơn một tấc vuông một tí, có lẽ chỉ một người ăn, trong khi bánh chưng chỉ có ý nghĩa khi có tinh “tập thể”. Bánh chưng theo sự tích kể lại về Tiết Liêu người con út của An Dương Vương phải lớn ít nhất là hai tấc vuông mới đủ ngon, đủ mỡ, đủ thịt, đủ nếp. Còn bánh mứt? Mỗi lần đi đo huyết áp ở Wal-Mart lại thấy hiện lên một nhắc nhở trên mạng: “Cứ 10 người Mỹ thì có một người có tiểu đường; nhưng trong thành phần cao niên trên 65, tỷ lệ này là 25%. Coi chừng”. Cho nên, mấy ai đủ can đảm bày bánh mứt, kẹo mật trên bàn. Mật ngọt, ruồi chưa chết mà mình đã chết.

Trong thực tế, mất mát lớn nhất của người Việt chúng ta nay không còn quê hương và đang sống “tạm dung” ở hải ngoại chính là không còn “một năm chỉ có ba ngày Tết” nữa, và Thanksgiving hay Giáng Sinh nay New Year cộng lại vẫn không đắp đồi được sự thiếu vắng đó. Tết là dịp ôn cố tri tân, mong đợi cái xấu ra đi, cái tốt sẽ đến. Là dịp người ta chất chứa hy vọng một sự đổi mới. Làm sao người ta có niềm mong đợi đó ở đây?

Đương nhiên không chỉ vì thời tiết khắc nghiệt ở đây, khác xa với những ngày Tết đẹp trời, nắng ấm ở quê nhà. Và cũng có lý do Tết ta không phải là ngày nghỉ ở đây, cho nên chẳng ai được rảnh rang, nghỉ ngơi, thảnh thơi để quây quần, xum vầy bên nhau – từ trẻ con đến người lớn – chỉ có người già thơ thẩn đi ra đi vào và hồi tưởng cái tết của một thời đã mất và nhớ đến baà hát Xuân Tha Hương của Phạm Đình Chương. Nếu không có 2-3 ngày nghỉ thì có gì “ăn Tết”. Và nếu nói Tết là những ngày của gia đình tập họp, ông bà, cha mẹ, con cháu, ngày tưởng nhớ tổ tiên với nhang đèn nghi ngút… thì làm sao mơ tưởng được chuyện đó ở trên vùng đất của di dân, đa văn hóa nhưng không dễ sống riêng mình?

Thực ra, Tết không chỉ có ba ngày Tết. Những kỷ niệm êm đềm còn có những ngày mua sắm phố xá tấp nập, chợ búa chen chúc, chợ hoa nô nức. Cũng là dịp sửa sang, trang hoàng, dọn dẹp nhà cửa để tống cựu, nghinh tân. Và bao nhiêu tập tục sẽ trở nên mai một với những thế hệ sau này: chúc Tết, mừng tuổi, lì xì, ăn nói kiêng cử, trang phục lễ nghi từ nhỏ đến lớn, cũng như không đụng đến cây chổi trong ba ngày để “bảo tồn gia sản”…
Người Việt về quê ăn Tết hiện nay đông gấp bội trước đây. Họ trở về từ khắp nơi, vì lý do đơn giản: họ còn nhà cửa, còn gia đình, họ hàng thân thích ở đây. Tại sao đông đảo đến thế. Đó là nhờ chính sách “xuất khẩu lao động” của Hà Nội. Đó là điều mà những người lãnh đạo kinh tế, nói chung, và lãnh đạo lao động, nói riêng, của chính phủ Việt Nam cực kỳ hãnh diện, tự hào cho chính sách, đường lối cao kiến, thông minh của mình.

Dĩ nhiên, nhiều nước đã mở cửa đón lao động từ Việt Nam, nhất là những nước dân số phát triển chậm cho nên nhiều kỹ nghệ thiếu người ngay cả kỹ nghệ mãi dâm. Lao động chân tay hay lao động không đòi hỏi nhiều kỹ năng (low-skilled labor) và tiền công đặc biệt thấp so với lao động bản xứ trong nước của họ (Nam Triều Tiên, Maylaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore…), lại không bị ràng buộc về những chuyện bảo hiểm và an sinh, hưu bổng. Trong khi đó, chính phủ Hà Nội bớt đi gánh nặng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cũng không cần phải lo chuyện giáo dục hay đào tạo. Và nhất là có thể nhận ngoại tệ hàng tỷ đô la hàng năm từ những người này gởi về. Nhưng điều phải nói về chính sách “xuất khẩu lao động” này là số phụ nữ đã được bán đi cho kỹ nghệ nhà chứa mà những người lãnh đạo Hà Nội không đủ lương tâm để ngăn chận. Nhiều tấn thảm kịch đã xảy ra cho những thiếu nữ này ở nơi “đất khách quê người”, lạ nước lạ cái, khi họ không rành ngôn ngữ và chỉ có thân xác để bán. Và “phố phường chật hẹp, người đông đúc”, phố xá sẽ càng náo nhiệt trong những ngày vào Tết này. Chỉ có điều, làm sao người ta có thể tự hào khi có một chế độ mà ai cũng muốn bỏ đi tìm vùng đất mới – xảy ra tấn bi kịch 39 người chết trong xe lạnh ở bên nước Anh vào tháng mười năm ngoái.

Những thế hệ trẻ ngày nay, và ngay cả không cần phải trẻ lắm mà chỉ cần dưới thế hệ baby-boom (baby-boomer: những người được sinh ra trong thời cuộc chiến Đông Dương thứ nhất 1946-53 đưa đến sự rút lui của thực dân Pháp ra khỏi đất nước nhưng lại dựng lên chế độ cộng sản vô đạo tại Hà Nội), không thể hiểu được, thấm được những mất mát văn hóa có thể được cảm nhận mỗi khi Têt đến, xuân về. Đó là một thời Tết đến rộn rã với những bài ca chào đón xuân – thời đó dĩ nhiên đã hoàn toàn mất. Trong cả một tháng, hầu như chúng ta thời đó chỉ nghe nhạc xuân. Và nghĩ lai mới thấy mùa xuân và cái tết đã cho những nhạc sĩ Miền Nam những cảm hứng nồng nàn vô tận đến thế nào.

Bài hát quen thuộc nhất với chúng ta, cho dù ngày nay có lẽ chẳng còn bao nhiêu người biết đến, là “Ly Rượu Mừng”, nói lên những hạnh phúc và mong đợi của mọi người trong dịp Tết đến, giữa khi đất nước còn chiến tranh, “kìa nơi xa xa, có bà mẹ già, từ lâu mong con mắt mờ lệ nhòa, Chúc bà một sớm quê hương, Bước con về hòa nỗi yêu thương”, nhưng chúng ta vẫn còn chất chứa hy vọng.

Những bài ca đẹp đẽ, êm đềm về Tết và xuân không kể hết. Bởi thế mà chúng ta có quyền hãnh diện và trăn trở thương tiếc một thời đã mất. Và vẫn thấy một Miền Nam trước đây huy hoàng, rực rỡ như thế nào dù trong lửa đạn. Có thể kể một số bài hát vẫn còn “dư âm” trong nhiều chúng ta, như “Hoa Xuân”, Đón Xuân”, “Gái Xuân”, Anh Cho Em Mùa Xuân”, “Xuân Nhớ Chiến Sĩ”, “Đồn Vắng Chiều Xuân”, “Xuân Ca”, “Bến Xuân”, “Đêm Xuân”, “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Mộng Đêm Xuân”… Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, “Xuân Tha Hương” vẫn gây cho chúng ta nhiều nỗi xúc động nhất:
Ngày xưa xuân thắm quê tôi
Bao nhánh hoa đời đẹp tươi
Mẹ tôi sai uốn cây cành
Vun xới hoa mùa xinh xinh
Thời gian nay quá xa xăm
Tôi đã xa nhà đầm ấm
Sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm

Tết năm nay là Tết Canh Tí. Chúng ta không khỏi nhớ đến một Tết Canh Tí 60 năm trước. Năm 1960. Đó là một năm lịch sử nhưng rất tiếc chúng ta đã không kịp rút ra bài học. Năm đó, một nhóm thân hào, nhân sĩ, trí thức (Nhóm Caravelle) 18 người đã gởi cho Tổng thống Ngô Đình Diệm một thơ cảnh báo đường lối thiếu dân chủ của ông sẽ gây nguy hại cho cuộc chiến chống Cộng đang nổi dậy dưới chiêu bài Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Tất cả thành viên trong nhóm này đều bị bắt. Cũng vào tháng 11 năm đó, một nhóm sĩ quan lãnh đạo binh chủng Nhảy Dù (Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông) đã làm một cuộc đảo chánh không thành. Đó là cảnh báo thứ hai trong năm. Tiếc thay Tổng thống Diệm đã không hành động thích ứng. Bởi thế mới có biến cố tai hại là cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 của một số tướng lãnh được Mỹ ủng hộ đã làm sụp đổ nền Đệ nhất Cộng Hòa nhưng không thể thay thế được.

Chúng ta cũng nhớ một năm Tí khác. Đó là Nhâm Tí, 1972, Mùa Hè Đỏ Lửa. Đầu năm đó chúng ta mới biết được cuộc đi đêm từ cuối năm 1969 giữa Cố vấn Henry Kissinger của Tổng thống Nixon với Lê Đức Thọ của Hà Nội. Đó cũng là một năm quân đội chúng ta đã anh dũng và oanh liệt đẩy lùi cuộc tấn công đầy tham vọng của Việt Cộng trên đất nước – từ sông Thạch Hãn Quảng Trị vào đến An Lộc phía nam. Nhưng lẽ ra, trong năm đó, chúng ta phải thấy hiểm họa vô chừng có thể đến từ Nixon và Kissinger khi oanh tạc Hà Nội cho đã rồi cũng ký Hiệp định hòa bình Paris để cho quân Bắc Việt tiếp tục đóng ở Miền Nam. Chúng ta không thấy, hoặc thấy mà không hành động. Thêm một lần nữa, chúng ta không học kịp một bài học đáng học.
Trong những ngày Tết này, cũng có thể nhớ đến cái Tết đầu tiên ở trong quân trường Thủ Đức, Tết đầu tiên trên sân trường Oxford, Tết đầu tiên trong trường “học tập cải tạo” ở Xuân Lộc… Đúng là những chuyện thơ thẩn, tản mạn…

HOÀNG NGỌC NGUYÊN

nguồn: Bản Tin Cộng Đồng 272- Mừng Xuân Canh Tý

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.