Home » Featured, Headline

Hoàng Ngọc Nguyên – THÔI THÌ THÔI, CHỈ LÀ PHÙ VÂN

22 Tháng Năm 2019 151 views No Comment


65 năm trước, từ Quảng Trị vào Saigon(Hình tư liệu gia đình)

HOÀNG NGỌC NGUYÊN

 

Tin từ San Jose, anh đã đến bờ. Sau một cuộc chiến đấu thầm lặng, vật vã, nghiêng ngả, đau đớn, mất ăn mất ngủ kéo dài không dưới 15 tháng – nếu không dài hơn. Có thể cả tám năm tính từ ngày anh phải thay gan. Anh đã ra đi hay anh đã đến? Trong kiếp người vô thường này, đi hay đến đều chỉ mang ý nghĩa tương đối. Có điều đã từ lâu anh biết chắc anh phải cố gắng kéo dài cuộc hành trình cho đến nơi cho dù nơi đến là cõi vô tận. Khó thể tưởng anh đã kéo dài đến thế nếu không có chị bên cạnh anh từng giờ, từng phút, hết ngày dài lại đến đêm thâu. Và chẳng phải chỉ một hai năm qua mới như thế. Câu chuyện của anh chị đã kéo dài gần 70 năm nay, chưa kể đoạn dẫn câu chuyện gắn bó này là những ngày chiến tranh Việt Nam mới vào cuộc, anh chị gặp nhau ở trường trung học Vĩnh Long mở đầu một chương mới, hay gần hơn một tí là những ngày đầu của “giải phóng”, cô giáo trường Marie Curie phải tất tả đạp xe từ Truơng Minh Giảng xuống gần Long An để “kiếm gạo nuôi chồng”. Và câu chuyện chỉ chấm dứt đến khi chị hiểu rằng chuyện phài đến đã đến và những hy sinh mất mát cuối cùng của chị chỉ tốt hơn cho anh. Khi anh đã đến bờ. Con người thường phải chịu những thử thách quá đáng đến mức phi nhân của Tạo Hóa, nhất là vào tuổi già sức chịu đựng đã mòn mỏi ở cả thể chất lẫn tinh thần nhưng lại trớ trêu thay bị quấy phá quyết liệt nhất. Làm sao anh có thể “kháng chiến” lâu dài như thế nếu không có chị, nếu không có chị… Và nếu không có hai con của anh, đã hết lòng tìm cách đến với anh thường xuyên hơn. Đã cho anh những an ủi và niềm tin và hy vọng. Và niềm vui với các cháu, đứa đã đủ lớn để anh thấy niềm vui, đứa sắp ra đời để anh còn thêm mong đợi.

Chúng tôi có đông anh em, nhưng sự thật là không có ai có thể so sánh được với anh về mặt “cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Hầu như anh ở với ba và mạ trong cả đời anh – chỉ có những gián đoạn rất ngắn ngủi vì “thời cuộc”: Ba mắc kẹt trong chiến khu Ba Lòng gần quê nhà Quảng Trị trong kháng chiến chống Pháp; anh phải học trung học ở Chasseloup Laubat (sau này đổi tên Jean-Jacques Rousseau) ở Saigon trong khi gia đình dọn lên Dalat; rồi anh lên Dalat học ba năm sư phạm trong khi gia đình dọn trở về Saigon; và vài năm ngắn ngủi anh đi dạy học ở xa, Vĩnh Long (nhờ thế mới gặp chị) và Tây Ninh… Cho dù anh là anh cả, cũng thấy hiếm có người con nào sát cạnh cha mẹ từ thời trẻ đến già như anh. Nhất là trên đất Mỹ này. Và đương nhiên trong thời nay ở Việt Nam! Chẳng những thế, trước cuộc sống của ba bao nhiêu bộn bề và lo toan trên “vùng đất đầy cơ hội” là Saigon trong những năm 50 và 60, rất tự nhiên anh đảm nhận khi nào không hay vai trò “quyền huynh thế phụ” – quyền đây là trách nhiệm. Lý lẽ cũng rất đương nhiên, cuộc sống văn hóa của “Saigon là viên ngọc trân châu của Á Đông” đối với những di dân từ Bích Khê, Quảng Trị như chúng tôi thật chẳng dễ gì hội nhập, nếu không có anh trong vai trò hơn cả xúc tác. Anh tập cho chúng tôi nghe nhạc, từ nhạc “cách mạng” đến tiền chiến, hậu chiến, tân nhạc rồi nhạc Pháp, nhạc Mỹ. Một vài đứa chúng tôi biết đọc sách, sưu tầm sách cũng nhờ anh. Và xem phim Mỹ phim Pháp say mê đến mức nhớ tên phim, nhớ tên tài tử cũng nhờ anh…

Anh không phải là “anh Hai” của chúng tôi, nhưng là con trai trưởng trong nhà với tám đứa em dưới trướng. Đông em đến thế, trên mỗi đứa em, cách này hay cách khác, anh đều để lại “dấu ấn” rõ rệt – nhất là đối với năm đứa đợt sau. Anh đã sống với tất cả những đứa em trai, em gái của anh từ khi chúng chào đời cho đến khi ra đời. Chúng tôi đều có cảm nhận về vị trí trưởng nam của anh. Thực ra, anh đã có vai trò dìu dắt rõ rệt với từng đứa, nhất là những khi chúng “vấp ngã” trong trường học, trước khi ra trường đời. Anh chưa hề một lần rao giảng, nhưng ở anh chúng tôi thấy rõ một mẫu mực trong cách sống với các em: sẵn sàng chia sẻ, che chở, đỡ đần, nhưng không dòm ngó nghiêm khắc. Cũng không thể quên những lời thương cảm từ những đứa cháu trước bao nhiêu lần “cậu Sim”, “bác Sim” thể hiện tấm lòng hiếm có trước những lúc khó khăn, nhiều thử thách của các cháu. Anh là người bắc cầu để nối lại những khoảng cách thế hệ không chỉ giữa ba và anh chị em chúng tôi, mà cả giữa những anh chị em trong nhà. Không chỉ thế, anh còn đến với bà con bên nội, bên ngoại với tất cả chân tình từ những ngày còn ở Quảng Trị, đến nay vẫn thế, trong khi ở Mỹ này luôn luôn cho người ta cớ để biếng nhác, hời hợt. Khi nhìn đến sự gần gũi của anh với tất cả các em, cùng sự thương mến các em vẫn dành cho anh và cả cho bà chị dâu quá “đắc đạo” (bởi vì không có chị giúp thể hiện được con người của anh, thì làm sao có anh?), tôi nghĩ đúng là cha mẹ tôi hẳn phải vui lắm cho dù nay không còn gần con cái nữa. Hơn một năm qua, chúng tôi đã lần lượt thay phiên đến với anh, cho dù có đứa ở xa từ Đan Mạch hay Paris. Anh vẫn còn tỉnh trí, còn hỏi thăm ông Trọng, ông Trâm. Chỉ về sau này, ba tuần gần đây, anh chỉ có một câu hỏi ngắn với từng đứa, giọng buồn, yếu: “chừng mô về”. Rồi thôi!

Chẳng có ai không nói anh là một nghệ sĩ. Không chỉ vì con người nghệ sĩ đầy tóc và râu nơi anh. Từ cốt cách bên ngoài đến tâm hồn bên trong. Anh là nghệ sĩ thể hiện nơi những mối đam mê với âm nhạc, hội họa, thi ca, văn học và cả dịch thuật. Tất cả chỉ nhằm “đi tìm một thời đã mất”. Anh không xác định được cái thời đó là thời nào, cái gì đã mất, cho nên cứ mãi tìm kiếm âm thầm, lặng lẽ. Với âm nhạc, chính là những rắt réo của tâm hồn, sự hoang du trong những giấc mơ. Với hội họa, đó là đi tìm sự siêu nhiên, siêu thực từ những cái nhìn vào thực tại. Với thi ca, đó là sự khắc khoải của con người trước những ý nghĩa không xác định được của cuộc sống. Và với văn học, chính là những băn khoăn nhỏ nhặt trong cuộc sống chỉ mãi đi “tìm kiếm một thời đã mất”. Anh đã can đảm thể hiện được một sự mâu thuẫn hiếm có: đi tìm một quá khứ không thể nhận diện được qua sự tưởng tượng những mới lạ, phi thường trong khai phá nghệ thuật trong tương lai. Nếu chẳng thành công, anh đã chẳng dắt em của anh từ Việt Chiến, Văn, Văn Học đến Trình Bày, Đứng Dậy, Tin Sáng, Thanh Niên và Viet Tribune ở San Jose.

Sự tìm kiếm đã ám ảnh anh ngay từ thời anh còn rất trẻ, chỉ mới 17, âm thầm thoáng hiện trong bài Hồ Thu. Bài ca nói lên tất cả những dao động trong tâm hồn của anh và mở ra những kích thước tinh thần sâu thẳm mà ngay chính anh cũng chưa hề tưởng được. Một người chưa hẳn vào đời nhưng đã nhìn đời qua sự dao động của thiên nhiên.

Gió lên rồi dường như nhắc mùa xưa
Tiếng thu về nhẹ rơi lá bên hồ
Buồn hiu hắt về hồ xưa chốn cũ
Hương xa rồi luyến tiếc chi ngày qua
Nước gương hồ lặng im cánh buồm mơ
Bước xưa về lặng nghe sóng bên bờ
Hoàng hôn xuống lạnh lùng hồ soi bóng
Cố nhân về lối cũ mong tìm thu

Chẳng thế nào chúng ta không nhớ đến hai câu thơ của Lamartine: Objets inanimés, avez vous donc une âme; Qui s’attache a notre âme et la force d’aimer? Vật vô tri, phải chăng mi cũng có một linh hồn, quyện chặt vào hồn ta và bắt phải nhớ thương?

Khi nghĩ đến những tình cảm nồng nhiệt mà một số bạn bè không ít vẫn dành cho anh – một điều chẳng mấy người có được – thì kết luận đương nhiên phảỉ là: Người ngoài còn gần gũi với anh như thế, huống gì người trong nhà. Khi nói thế, tôi nghĩ đến vô số các anh Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Đăng Thường, Diễm Châu, Cao Thanh Tùng, Nguyễn Đồng, Cung Tiến, Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Cường, Trần Đình Sơn Cước, Ngô Thế Vinh, Võ Phiến, Nguyễn Ngọc Lan… Chưa kể những người anh quen biết trong giới sư phạm và văn nghệ (văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ…) như Trần Phong Giao, Phan Kim Thịnh, Viên Linh, Nguyên Sa, Nguyễn Khắc Ngữ… Và chưa kể biết bao người ở trong nước, thường là lớp đàn em một thời đã được anh dẫn dắt vào nghề.

Càng về già, thời gian ngày càng qua nhanh hơn chúng ta tưởng. Hiện tại còn ngoài tầm tay. Huống gì tương lai. Quá khứ chìm sâu trong trí nhớ. Bao nhiêu chuyện đã quên hẳn, khiến cho hiện tại càng thêm hư ảo. Nhưng những kỷ niệm với anh gầy dựng vẫn tản mác trong anh chị em chúng tôi, cho dù vẫn chưa nói được hết. Mỗi khi có dịp gặp nhau, và chỉ cần gặp nhau, dường như chúng tôi chẳng quên chuyện gì cả, về anh, nhờ anh và nhớ anh. Ngày xưa lớn lên, anh tập cho mấy em hát bài Hồng Hà (Du Kích Sông Thao) của Đỗ Nhuận trong thời thế đao binh, loạn lạc của đất nước . Nay anh đã nhắm mắt xuôi tay, thoáng đâu đó điệu nhạc nhẹ nhàng trầm buồn “Red River Valley” bùi ngùi đưa tiễn.

  • Hoàng Ngọc Nguyên

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.

Bộ gõ AVIM-Reloaded