Home » Bình Luận, Featured, Headline, Thời Sự

Hoàng Ngọc Nguyên & Bradley Keele: “VIETNAM WAR”: THỜI ĐIỂM TRÁI KHUẤY

26 October 2017 53 views No Comment

Khi đã đi vào tuổi cao niên Medicare, có một thực tế người ta sẽ nhận ra từ từ: bạn cũ ngày càng hao hụt, và bạn mới ngày càng thưa thớt. Bạn cũ có thể là những người từng chung xóm, hay chung trường, hay chung sở – thậm chí những bạn “đồng học” dưới mái nhà tôn nền đất ở Trảng Lớn hay Xuân Lộc… Nhìn lại, nay người thì đã ra đi (tuổi thọ trung bình của nam giới người Mỹ chỉ khoảng 78.5), người không muốn đến, vì tuổi già cũng có khi dở chứng, vừa khó tính (thì khó chơi) vửa khác tính (thì không chơi). Vả lại trên nước Mỹ bao la này, người một nơi, người một nẻo. Xa mặt cách lòng. Trong khi đó, ai cũng nói tuổi càng già người ta càng cần “mở rộng giao tiếp” để tăng hội nhập, giảm trầm cảm, bớt mất trí. Nhưng đây chẳng phải là chuyện dễ dàng vì những khác biệt ngôn ngữ và văn hóa.

Bradley Keele là một người bạn đặc biệt, hai người chỉ mới quen biết hai ba năm trở lại đây. Phỏng chừng ông từng bị stroke, cho nên nói chuyện khó khăn, đi đứng không dể dàng. Vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu trong tuần, ông vẫn bền chí đến lớp Tai Chi của Trung tâm Cao niên West Jordan (West Jordan Senior Center) ở Salt Lake City này để vung tay múa chân – cho dù có khi không đều đặn. Nói chuyện với ông có khi vất vả để hiểu, cho đến khi biết rằng hai người lẽ ra không phải đợi đến bây giờ mới là bạn của nhau. Lẽ ra, ông là một người bạn cũ, chẳng phải là bạn mới trong tuổi già lật bật kém vui này.

Chẳng thế nào không nhớ đến tựa bài hát của hai chị em The Carpenters một thời vào những năm 60-70: “Yesterday, once more”. Và Brad “just like a long lost friend”. Năm 1969, ông là một thượng sĩ trong quân đội Mỹ, đang trấn đóng tại Củ Chi. Saigon cách Củ Chi bao xa, nhưng hai người chẳng có cơ duyên đến được với nhau từ ngày ấy.

Phải chờ đến gần nửa thế kỷ sau, hai người mới biết nhau qua “Tai Chi class”, nơi cũng có đến 3-4 người khác từng có kinh nghiệm với cuộc chiến Việt Nam. Brad vẫn giữ trong tâm trí nhiều kỷ niệm day dứt, vui ít buồn nhiều, về cuộc chiến mà nay bỗng dưng người ta đang muốn viết lại cho mang vẻ huyền thoại. Tâm tư của ông được chất chứa trong những bài luận văn ông viết khi trở lại đại học cách đây hơn 30 năm.

Hai người chia sẻ với nhau những suy nghĩ, tâm tư về cuộc chiến đó – đang được viết lại trên tờ The New York Times cũng như qua loạt phim mới đây “The Vietnam War”. Và hai người cùng hợp soạn bài viết dưới đây – ít nhất nói lên một tình bạn và sự đồng cảm.

Thượng sĩ Bradley Keele.


Thượng sĩ Bradley Keele.


Ông Bradley Keele và nhà báo Hoàng Ngọc Nguyên.


“VIETNAM WAR”: THỜI ĐIỂM TRÁI KHUẤY

  • Hoàng Ngọc Nguyên & Bradley Keele

Trong suốt năm nay, tờ The New York Times đã đưa ra một loạt các bài báo dưới tiêu đề chung  ”Việt Nam 67″, tạo dịp cho nhiều người hồi tưởng, theo kinh nghiệm riêng của mình, một cuộc chiến mà từ lâu đã không còn là gánh nặng trong tâm trí của nhiều người. Đọc nhiều bài viết này, người ta có thể nghĩ rằng các tác giả vẫn còn tưởng như đang ở trong những năm sáu mươi hay bảy mươi của thế kỷ trước. Gần đây, chúng ta cũng xem “Vietnam War”, một bộ phim nhiều tập của hai người làm phim Ken Burns và Lynn Novich, họ nói đã mất mười năm cho công việc này. Những nhà sản xuất phim này muốn đổi mới trong cách nhìn cuộc chiến, nhưng liệu họ có khác biệt với những người đi trước hay chăng?

Đã được 44 năm kể từ khi Hoa Kỳ ký Hiệp định Chấm dứt Chiến tranh và Phục hồi Hòa bình ở Việt Nam, đưa về nước lính Mỹ còn lại đang chiến đấu bảo vệ “tiền đồn Đông Nam Á của Thế giới Tự do”. Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc, bởi vì những bên ký tên không bao giờ có định ý tái lập hòa bình. Và một bên cảm nhận mặc nhiên một sự tự lừa dối hoặc mất mát ngay từ đầu. Do đó, hai năm sau, chiến tranh đã kết thúc một cách bi thảm thật sự cho người Miền Nam. Kể từ đó,  Việt Nam chỉ có thống nhất trên bề mặt, và dân chủ chưa bao giờ có chỗ trong một chế độ độc tài đảng trị.

Nhưng thời gian đã thay đổi.

Những người Việt vẫn còn tâm sự khắc khoải với cuộc chiến tranh Việt Nam hẳn ít nhất cũng phải 60 tuổi (sinh năm 1957 và 18 tuổi khi chiến tranh chấm dứt). Nhưng hầu hết cũng đang vất vả trong cuộc đấu tranh để tồn tại trước những thay đổi mà họ trải qua, thực sự khó bận tâm với một quá khứ đã bỏ lại đằng sau.

Và người Mỹ? Có bao nhiêu người dưới 60 tuổi biết gì về cuộc chiến mà họ không tham gia. Ngay cả những người Mỹ lớn tuổi có kinh nghiệm trong cuộc chiến này, có bao nhiêu người thực sự quan tâm đến cái gọi là “vết thương chiến tranh” của một quá khứ xa xưa ở đất nước này. Hay người ta chỉ xem chiến tranh như môt trang sử đã khép lại như bao trang sử khác, vì hầu hết chúng ta đang bị căng thẳng tâm trí trước những gì đang nhìn thấy hàng ngày.

Hoa Kỳ là một hiệp chủng quốc rộng lớn gồm 50 bang như 50 nước bị ép chung sống.  Thế giới thì đúng là bao la. Chúng ta đã chứng kiến ​​rất nhiều sự kiện lịch sử thú vị ở đất nước này cũng như trên toàn thế giới. Chúng ta cũng có nhiều vấn đề mới trong nước và quốc tế để tìm hiểu và mầy mò cách giải quyết. Liệu chúng ta có thật sự có thời gian cho cuộc chiến Việt Nam? Liệu chúng ta có thực sự cần Chiến tranh Việt Nam để học hỏi từ quá khứ hầu tìm ra đường cho tương lai? Hoặc chẳng có gì liên quan để bận tâm. Chiến tranh Việt Nam bộc phát vào thời điểm đỉnh cao của cuộc chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ là lãnh đạo của Thế giới Tự do đang cố gắng ngăn chặn sự bành trướng của Cộng sản Quốc tế ở cả châu Âu và châu Á – chưa nói đến châu Mỹ. Nếu Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt một vài năm sau khi Johnson lên thay Tổng thống John Kennedy (bị ám sát tháng 11 năm 1963), số phận của Philippines, Malaysia, Indonesia và Thái Lan, đã như thế nào, những nước này đã bị áp lực nặng nề của Cộng Sản trong nhiều năm trước đó? Nếu cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 có thể được ngăn chận ngay từ đầu, đúng là có một khả năng chúng ta có một câu chuyện khác về lịch sử cuộc chiến – một kết thúc có hậu hơn. Có thể nào có những chuyến thăm của Nixon tới Trung Quốc và Liên Xô vào năm 1972, mở đường cho sự hòa dịu cho đến khi thế giới cộng sản sụp đổ vào năm 1990?

Ngày nay, mối đe dọa thực sự đối với hòa bình và trật tự thế giới không chỉ đến từ các lực lượng khủng bố cực đoan Hồi giáo mà còn Trung Quốc cộng với Bắc Triều Tiên ở Biển Đông và đế chế Nga ở Đông Âu và Trung Đông. Thậm chí tệ hơn, nền dân chủ dường như đang suy tàn trên toàn thế giới – ngay cả ở đất nước này. Hoa Kỳ từng là một cường quốc kinh tế không bị thách đố trong thế kỷ XX. Hiện nay, nước Mỹ đang bị đe doạ liên tục bởi xu hướng toàn cầu hoá cạnh tranh, tổng thống của chúng ta phải nâng khẩu hiệu “Mướn người Mỹ, Mua của người Mỹ” mặc dù ông thực sự “sa thải người Mỹ”. Về mặt chính trị, sau những kinh nghiệm dũng cảm với vị tổng thống da đen đầu tiên, bây giờ chúng ta phải trả giá bằng cách lần đầu tiên có người đứng đầu hành pháp là người “da trắng thượng đẳng”. Chúng ta phải thận trọng với 35% những người ủng hộ ông, không thể nghĩ chỉ cần biết 60% người phủ nhân ông là đủ.
Nay người ta có thể tạo sự hồi tưởng Chiến tranh Việt Nam như thế nào nếu không làm ồn ào, gây phiền nhiễu để thu hút sự chú ý của người dân khỏi các vấn đề quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, nhập cư, kiểm soát súng, bất lực từ cả hai nhà của Quốc Hội …?

Tờ New York Times cho rằng năm 2017 là năm tốt nhất để nhớ lại Chiến tranh Việt Nam vì nó là năm kỷ niệm năm thứ 50 năm 1967, một năm gây nhiều tranh cãi trong lịch sử. Chiến tranh đã đạt tới đỉnh điểm tử vong vì lực lượng Hoa Kỳ đã đẩy mạnh các hoạt động “tìm kiếm và tiêu diệt” với thành công đáng kể, và Cộng Sản Bắc Việt đang phải vật lộn để tồn tại bằng cách gửi thêm quân vào nam qua đường mòn Hồ Chí Minh và cố gắng gây ra nhiều tổn thất nhân mạng cho quân Đồng Minh ở Miền Nam với bất kỳ giá kinh khủng nào. Phong trào phản chiến  ở Hoa Kỳ đang gia tăng. Ở miền Nam, tình trạng chính trị bình thường đang trở lại với cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội lưỡng viện của Đệ nhị Cộng hòa đang được tổ chức.

Chúng ta có thể đặt câu hỏi tại sao tờ Times lại không kỷ niệm 50 năm chiến tranh vào năm 2014, 50 năm sau khi xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ; hay năm 2015, để kỷ niệm năm 1965, khi Tổng thống Lyndon Johnson quyết định đưa bộ binh chiến đấu vào Nam Việt Nam để chống lại sự đe dọa của Bắc Việt chiếm trọn Miền Nam. Hay tại sao loạt bài này không chờ đến năm 2018, 50 năm sau cuộc tổng tấn công năm 1968 của Tết Mậu Thân mà quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam và chính quyền Sài Gòn lẽ ra phải và có thể ngăn chận được để có thể tránh được những hậu quả thảm khốc ở Hoa Kỳ (Johnson không ra tranh cử nữa và phải cầu khẩn kẻ thù tới bàn hòa bình, Nixon bước vào Nhà Trắng với một chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” ma quỉ. Chúng ta chỉ cần nhớ rằng vào tháng đầu tiên của năm 1968, Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ tại Việt Nam và chính quyền Sài Gòn đã kiểm soát chặt chẽ cuộc chiến ở cả bốn khu vực quân sự và cộng sản đã phải chịu thương vong nặng nề trong hai vụ tấn công họ tổ chức năm đó. Chỉ trong trận chiến ở Huế, khoảng 5.000 lính cộng sản đã bị giết trong giao tranh. Địch đã phải trả thù bằng cuộc tàn sát khủng khiếp thường dân, số nạn nhân ít nhất 6.000 là người sống trong thành phố của cố đô – khoảng 15% dân số của Huế.

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi chiến tranh chấm dứt, và thật dễ dàng giữ lại những quan điểm về chiến tranh, như thể chúng ta vẫn còn sống trong những năm 1960 hoặc những năm 1970 của thế kỷ trước. Nhưng thật khó hiểu tại sao những quan điểm như vậy có thể tồn tại trước sự thay đổi soi sáng của thời cuộc.

Kevin Boylan, một nhà sử học quân sự tại Đại học Wisconsin – Oshkosh, đã viết về những “sự thật khó chịu” của chiến tranh trong bài viết của mình: “Tại sao Chiến tranh Việt Nam lại không thể thắng được”: “… Chính phủ Nam Việt Nam chuyên chế  nhũng lạm, quân đội Miền Nam không muốn chiến đấu, phần lớn dân chúng sẵn sàng ủng hộ Cộng Sản, Bắc Việt có sức đáp trả từng bước leo thang của chúng ta, Johnson đã làm cho đất nước lâm vào chiến tranh nhưng không có kế hoạch giành chiến thắng, và Lầu Năm Góc không ước định được  khi nào chiến thắng. Và Johnson biết rất rõ rằng nếu công chúng phản đối chiến tranh, người ta  sẽ bác bỏ sự lãnh đạo của ông và chương trình Đại Xã Hội ông ấp ủ sẽ thành mây khói”.

Ít nhất, phải bàn đến nhiều lý do khác cho tình trạng “bất khả chiến thắng” này. Để có thể thận trọng hơn, ít tùy tiện hơn, chúng ta phải nói rằng một số “sự thật khó chịu” mà tác giả Boylan nêu lên chỉ là “một nửa sự thật”. Khi chúng ta nói về “chính trị chuyên chế nhũng lạm” của Nam Việt Nam, xin hãy chịu khó nhìn vào tình hình chính trị của các nước Đông Nam Á hiện nay! Nước Philippines với ông tổng thống giết người Rodrigo Duterte; Thái Lan với ông Prayut Chan-o-cha quân phiệt; Malaysia với Thủ tướng Najib Razak có cả tỷ tham nhũng ở các ngân hàng Mỹ; Campuchea với Hun Sen có chủ trương muốn có dân chủ phải bỏ tù đối lập … Không nói đến những người ở Hà Nội đã nhấn mạnh trong bốn thập kỷ qua: “Người dân Việt Nam có một đảng cộng sản là quá  đủ!”.
Và xin nhớ rằng chính quyền Sài Gòn trước đây vẫn có sự các nhóm đối lập mạnh mẽ ở Hạ viện và Thượng viện (vừa do Phật giáo Ấn Quang ủng hộ vừa từ những người miền nam ăn bả, nằm mơ). Và Saigon vẫn có một phong trào chống chiến tranh và chống chính phủ (một phong trào thực sự) đã được kẻ thù nằm vùng xúi giục, kích động, giật giây, nếu không nói hỗ trợ và chỉ đạo. Một tác giả người Việt trong nước trên NYT đã viết (khá ngu xuẩn) rằng “ở Hà Nội cũng có một phong trào phản chiến” nhưng lại chẳng nêu ra được người nào, bài viết nào, hay cuộc tập họp nào, khiến chúng ta phải tự hỏi về định nghĩa của một phong trào là gì (phong trao mà không có bất kỳ chuyển động nào). Quân đội Sài Gòn không miễn cưỡng chiến đấu, nhưng binh sĩ của họ vẫn nhớ rằng họ còn có gia đình để lo lắng. Đó là văn hóa nhân bản. Trong khi đó, Hà Nội đã nói rõ sẵn sàng hy sinh đến người cuối cùng, đã gửi hàng trăm ngàn thanh niên của họ vào nam, đến mức ngoaì bắc hầu như không còn trai tráng; vào nam, người ta phải chiến đấu vùng vẫy để sống còn. Liệu ông Boylan có bất cứ bằng chứng thực sự nào cho thấy “phần lớn dân chúng sẵn sàng ủng hộ Cộng sản”? Trong cuộc bầu cử tổng thống Sài Gòn năm 1967, cộng sản ủng hộ một ứng cử viên chủ trương “đàm phán hòa bình với phía bên kia”. Nhưng Trương Đình Dzu, một nhân vật bất hảo,  cuối cùng đã chỉ có 17% ​​số phiếu!

Chúng ta đã chiến đấu trong một cuộc chiến tranh bất khả chiến thắng bởi vì chúng ta không rút ra được bài học từ Chiến tranh Triều Tiên: chúng ta phải thuyết phục kẻ thù hiểu rằng chúng không thể chiến thắng – thuyết phục bằng cách chứng tỏ sẵn sàng cho một cuộc chiến toàn diện và quyết liệt để đẩy lùi kẻ thù về bên kia chiến tuyến. Một số nhà nghiên cứu chiến tranh đã viết rằng chúng ta không giành được chiến thắng bởi vì không hiểu người dân miền Nam đủ để giành được trái tim và tâm trí của họ. Không, những gì mà chúng ta không hiểu được là các nhà lãnh đạo cộng sản như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ bị điên khùng, chỉ có một điều trong tâm trí họ là chiến tranh tới cùng!

Vẫn còn một số câu hỏi mà chúng ta đã không nêu lên đúng mức, trả lời cho những câu hỏi này có thể làm sáng tỏ những điều chúng ta cần phải rõ thêm về cuộc chiến.

Nhằm mục đích được gọi là thống nhất quốc gia, cuộc nội chiến hai miền bắc nam do Hà Nội gây ra phải chăng là một cuộc chiến cần thiết hoặc là một cuộc chiến tự chọn. Có thể có chăng một giải pháp hòa bình và dân chủ cho Hà Nội để đạt được mục tiêu này? Hoặc chỉ đơn giản là có một nỗi sợ hãi của người cộng sản về lâu dài họ sẽ không thể thắng nếu người dân từ cả hai phía của đất nước có thể tự do lựa chọn.

Cuộc chiến tranh “giải phóng” này có phản ảnh ý chí, ý nguyện của người dân hai miền, có tính đến cuộc sống, mức sống ở miền Bắc và miền Nam? Người miền bắc có đòi giải phóng miền nam, hay người dân miền nam có hoan hô người miến bắc vào “giải phóng” chăng?

Trong nửa sau của thập kỷ năm mươi, Hà Nội đang bị vướng vào nhiều vấn đề. Những sai lầm chết người trong cải cách ruộng đất và nạn khủng bố chôn sống lan tràn các địa chủ; đàn áp phong trào Nhân Văn Giai Phẩm của các nhà văn rơi vào bẫy “Trăm Hoa Đua Nở” (ủng hộ tự do ngôn luận, sáng tạo và nhân quyền); và cuộc nổi dậy đẫm máu của người Công giáo ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (quê hương của Hồ Chí Minh). Nạn đói dường như đang trở lại miền Bắc Việt Nam, mô hình xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ làm cho tình trạng nghèo nàn ngày càng tồi tệ. Chiến tranh thực sự là cần thiết vì nó ít nhất là một cái cớ cho sự lạc hậu, chậm tiến kinh tế ở miền bắc.
Khi quyết định tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, Hà Nội (hay Võ Nguyên Giáp) đã ước tính hoặc dự đoán thế nào những tổn thất bao nhiêu thế hệ trẻ, bao nhiêu tàn phá đất nước miền bắc, bao nhiêu năm phải hy sinh về phát triển kinh tế, bao nhiêu mất mát hạnh phúc con người phải chịu đựng khi đối đầu với một kẻ thù ghê gớm như “đế quốc Mỹ”. Nếu họ không thể hiểu đầy đủ, họ phải có ý tưởng bao nhiêu người sẽ bị hy sinh (mấy trăm ngàn? Hay một triêu người? Trong bao năm?). Bao lâu chiến tranh sẽ tồn tại và người dân sẽ phải sống kham khổ đến chừng nào? Nhưng Hồ Chí Minh đã nói rõ rằng: “Còn non còn nước còn người…”. Nền kinh tế, phúc lợi của người dân và cái giá của sự đình trệ kinh tế? Tính sau! Chờ cho đến khi chiến tranh kết thúc đã!

Nếu chúng ta không nêu lên những câu hỏi đúng đắn, thì thật dễ để nói “chiến tranh không thể thắng được” và qui trách nhiệm một cách vô trách nhiệm: tất cả các bên đều có lỗi nhưng nay xí xóa cả. Chúng ta đã được chứng ngộ khá đủ trước những gì đã xảy ra trong vài thập kỷ qua. Ít nhất, chúng ta nên nhìn vào thực tế là không thể nói chuyện hòa giải theo cách mập mờ khi chỉ có một bàn tay cố gắng vỗ.

Hoàng Ngọc Nguyên & Bradley Keele

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.

Bộ gõ AVIM-Reloaded