Home » Featured, Tin Việt Nam, Tài Liệu

Nguyễn Tiến Hưng: Viết về phim The Vietnam War (bài 2)

19 October 2017 59 views No Comment

Giai đoạn khi Đồng Minh tháo chạy

Bài NGUYỄN TIẾN HƯNG

Ánh lửa từ những bó đuốc của đoàn người da trắng đi tuần hành tại Charlottesville tháng Tám vừa qua làm sáng rực bầu trời khuôn viên trường Đại Học Virginia (UVA) gợi lại cho chúng tôi bao nhiêu kỷ niệm về vấn đề da mầu trong suốt bảy năm theo học tại nơi đây (1958-1965). Xung đột sắc tộc đã dẫn tới những cuộc biểu tình tràn lan làm chia rẽ nước Mỹ trước khi quân đội Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Như vậy không phải chỉ vì cuộc chiến Việt Nam mà có phong trào biểu tình làm cho đất nước này bị xé nát.

Đại học Virginia là trường của người da trắng vì không nhận sinh viên da đen. Và sinh viên da trắng phải là phái nam. Muốn vào UVA, nữ sinh viên phải theo học ở Mary Washington College tại Fredericksburg, cách Charlottesville 66 dặm. Vừa tới thành phố này chúng tôi đã thấy phòng vệ sinh dành cho “White” và “Black.” Thoạt đầu cũng lúng túng, không biết mình nên chọn phòng nào?

Một quân nhân VNCH đang tiến vào một trong hai ngôi làng Phanh-Ban và Phanh-My gần Đà Nẵng, trong hình do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chụp lại. Hai làng này bị lực lượng Việt Cộng pháo kích trong suốt hai tiếng đồng hồ vào đêm 10 tháng Sáu, 1970, vì dân làng đã cương quyết đứng về phía Việt Nam Cộng Hòa, không theo Việt Cộng. Trên 150 dân làng đã bị sát hại trong trận pháo kích này. (U.S. Marine Corps Sgt. Berkowits)

Cái gì phải đến thì đã đến. Năm năm sau, ngày 10 tháng 9, 1962, một cuộc nổi loạn ở Oxford, Mississipi: hai người chết và một số bị thương, TT Kennedy phải điều động tới 16,000 vệ binh tới để dẹp loạn, bắt chấp nhận một sinh viên da đen vào học tại Đại Học Mississipi. Cả thành phố Oxford bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội. Làm sao mà ở nước Mỹ lại có thể có cái cảnh này, chúng tôi tự hỏi?

Trong tất cả các cuộc biểu tình phản chiến (kể cả biến cố vệ binh bắn vào sinh viên biểu tình tại Đại Học Kent State ngày 4 tháng 5, 1970) vừa được nhắc lại trong bộ phim The Vietnam War của Ken Burns và Lynn Novick (B và N), không bao giờ có cả một thành phố bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội như vậy.
Ngày 11 tháng 6, 1963 mọi người ngỡ ngàng khi thấy TV chiếu cảnh Thống Đốc Alabama, ông George Wallace đứng chận ngay trước cửa Đại Học Alabama (Tuscaloosa) không cho hai sinh viên da đen vào lớp học. TT John F. Kennedy lại phải đưa vệ binh tới, và cảnh sát tháp tùng hai sinh viên nhập học. Khi được bầu lên thống đốc ông Wallace đã tuyên bố: “Tách biệt bây giờ, tách biệt ngày mai, tách biệt mãi mãi” (segregation now, segregation tomorrow, segregation forever).

Tiếp theo là cuộc biểu tình vĩ đại “March on Washington” ngày 28 tháng 8, 1963 do Mục sư Luther King lãnh đạo. Thông điệp của ông về “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) và phản ứng của đoàn người biểu tình ước tính tới 250,000 người. Ngày hôm sau, một nhà lãnh đạo nhân quyền bị ám sát ở Jackson, Mississipi.
Những biến cố liên tục này làm cho nước Mỹ bất an, chia rẽ không kém gì những cuộc biểu tình phản chiến trong bộ phim The Vietnam War.

Năm 1963 thì Lynn mới lên một tuổi và Ken lên mười, không để ý tới biểu tình. Có thể vì vậy mà trong phim này, đã hàm ý rằng chỉ vì chiến tranh Việt Nam nên mới có biểu tình náo động và lớn lao như vậy. Phim không nói đến sự thật là vì sợ phải đi lính, một số khá đông thanh niên đi biểu tình là để chống quân dịch (the DRAFT) như chúng tôi sẽ đề cập dưới đây.

Phần II của phim The Vietnam War đề cập về cùng một thời gian với cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy (KĐMTC), đó là từ Tết Mậu Thân cho tới khi Miền Nam sụp đổ. Trong cuốn sách này, chúng tôi tập trung vào việc Hoa Kỳ đã bỏ rơi Miền Nam như thế nào. Còn phim The Vietnam War, tuy có đề cập tới những sự kiện theo dòng lịch sử, nhưng tập trung vào biểu tình, thương vong, và hoàn cảnh bi đát của những người quân nhân Mỹ trên chiến trường. Họ đã không được hậu phương ủng hộ, cho nên lẫn lộn về sứ mệnh của mình: “Tôi đang chiến đấu cho cái gì đây?” (What do I fight for?).

Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ đề cập vắn gọn tới một số sai lầm và thiếu sót của bộ phim.

Trung thực hay thiên lệch?

Phần II của phim vẫn tiếp tục phán xét, còn nặng hơn Phần I. Phim đã lập lại những luận điệu của phe thiên tả rằng chính phủ Sàigòn tham nhũng, TT Thiệu hành động độc tài như ông vua trong một nước bé nhỏ, quân đội VNCH không hữu hiệu, nạn trốn quân dịch. Nặng nề nhất là đã một cách gián tiếp làm cho khán giả hiểu lầm rằng chính phủ Miền Nam chỉ là bù nhìn của Mỹ.

Về tham nhũng, chúng tôi miễn bình luận vì trong những năm vừa qua, độc giả đã nghe và xem quá nhiều về tham nhũng ở ngay Washington, hay thống đốc Virginia vào tù.

TT Thiệu độc tài: B và N không biết rằng Sàigòn có tới cả vài chục đảng phái, mấy chục tờ báo, luôn chỉ trích, công kích chính phủ? Rồi ca nhạc phản chiến tràn lan, sinh viên xuống đường biểu tình thoải mái.
Quân đội không hữu hiệu, trốn quân dịch? Sau trên 40 năm với bao nhiêu nghiên cứu đặt lại vấn đề hy sinh và thành công của quân đội VNCH mà B & N vẫn lập lại luận điệu xưa cũ. Trước khi phê bình như vậy, thiết tưởng B và N phải cho nghiên cứu (vì ngân sách $30 triệu rất lớn) xem có dân tộc nào trên thế giới này đã chịu chấp nhận cho gần 1/3 số thanh niên nam ở tuổi lao động (1.2 triệu trên 3.9 triệu) đi quân dịch hay không? Và những người quân nhân này đã chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào? Tiền lương thì chỉ đủ mua gạo cho gia đình. Chỉ có thế. Quả thật là đã có nạn lính ma, lính kiểng nhưng chỉ là số rất nhỏ, đại đa số đã vui lòng nhập ngũ.

“Hành động nói to hơn lời nói,” chính Đại Sứ Graham Martin là người có mặt tại Sàigòn đến giờ phút cuối cùng đã phải cải chính trước Quốc Hội rằng (sau khi Mỹ rút hết từ mùa Xuân 1973) “Miền Nam chỉ mất một tỉnh đầu tiên là Phước Long vào tháng 1, 1975 khi các ngài đã cắt hết viện trợ.” Lúc ấy quân đội chỉ còn đủ đạn dược để chiến đấu 30 – 45 ngày. Cho nên nếu ngày 30/4 không xảy ra thì muộn lắm cũng sẽ xảy ra hai tháng sau, vào ngày 30/6/1975?

Chính phủ Miền Nam là bù nhìn của Mỹ?
Cáo buộc này đã được nhiều người phản biện. Nơi đây, chúng tôi chỉ nhắc lại như thế này: tuy dù vì hoản cảnh thật nghèo sau mười năm chiến tranh của Pháp (1945-1955), VNCH đã phải lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ nhưng không phải vì thế mà lãnh đạo của họ trở thành bù nhìn.

Như đã đề cập trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào (KĐMNV) thời Đệ Nhất Cộng Hòa, TT Ngô Đình Diệm đã yêu cầu TT Kennedy rút cố vấn đi, và cũng không muốn cho Mỹ đưa quân đội tác chiến vào Miền Nam. Khi thấy Mỹ bỏ Lào (1962), ông nhìn thấy chân trời tím và biết rằng trước sau thì Mỹ cũng bỏ rơi Miền Nam nên muốn điều đình với Miền Bắc để tìm một giải pháp hòa bình. Ông đã chống lại Mỹ và sau cùng đã hy sinh tính mạng để giữ được chính nghĩa quốc gia.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, TT Thiệu đã nhất quyết chống lại TT Nixon, không chấp nhận bản dự thảo Hiệp Định Paris cho dù bị đe dọa sẽ có đảo chính giống như 1963, rồi TT Nixon còn tàn nhẫn đến mức nói “cắt cổ ông Thiệu nếu cần thiết.” Nhưng TT Thiệu vẫn cưỡng lại. Sau cùng TT Nixon phải bí mật cam kết để bảo đảm hòa bình và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho Miền Nam để đổi lấy sự đồng ý của TT Thiệu. Nhưng cam kết thì cũng chỉ là mánh khóe để bỏ rơi Miền Nam (xem KĐMTC).

Không giải thích cho rõ tại sao thương vong lên cao?

Tử thương lên tới 58,200 người là vì hai lý do:
Thứ nhất: Mỹ muốn trực chiến. Mặc dù cả hai tổng thống VNCH – Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu – đều đã yêu cầu là Mỹ chỉ cần yểm trợ phương tiện, vật chất và huấn luyện quân đội Miền Nam để họ tự bảo vệ, rồi chỉ yểm trợ khi nào bị tấn công, nhưng Mỹ đã không nghe, cứ mang thật nhiều quân vào rồi đưa họ ra chiến trường.

Ngay từ lúc Mỹ mới nhúng tay vào Miền Nam cũng đã có sự bất đồng ý về chiến thuật giữa cố vấn Mỹ và tuớng lãnh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở Miền Nam đã nói toạc ra là “ai chi tiền thì người đó chỉ huy” (who pays, commands). Rồi tới khi chiến tranh leo thang, sứ mệnh của quân đội Hoa Kỳ được xác định là chiến đấu, sứ mệnh quân đội Miền Nam là gìn giữ an ninh ở hậu phương.

Vì thế Tướng Westmoreland đã theo một chiến thuật gọi là “tìm và diệt địch” (search and destroy). Người lính Mỹ đi tìm địch phải lội vào bùn lầy, trực thăng thả họ xuống những nơi hẻo lánh, núi đồi hiểm trở. Trận Đồi 937 (còn gọi là Hamburger Hill) ở Thung lũng A Shao có tới 56 tử thương và 480 bị thương.

Vì quân đội Mỹ đã chủ động, nên quân đội Miền Nam không được huấn luyện tối đa cho tới năm 1969 khi Mỹ bắt đầu rút. Lúc ấy mới có chương trình Việt Nam Hóa, giúp tân trang và đẩy mạnh huấn luyện. Ta nên nhớ chỉ sau Tết Mậu Thân quân đội VNCH mới được trang bị súng M-16, còn trước đó chỉ là loại cổ, súng Garrant M-1 và súng Carbin từ thời đệ nhị thế chiến (KĐMTC).

Thứ hai, Mỹ áp dụng mô hình chiến tranh quy ước (conventional warfare) để đánh chiến tranh du kích. Mô hình này dựa vào hai yếu tố chính yếu, đó là “di động tính và hỏa lực” (mobility and fire power). Di động tính là dùng nhiều trực thăng để chuyển quân, nhưng trực thăng bay thấp, dễ bị bắn trúng. Hỏa lực: máy bay thả nhiều bom đạn và đại pháo gây nhiều thương vong cho người dân Việt và có khi còn cho cả người lính Mỹ.

Xem toàn bộ 10 tập với phụ đề tiếng Việt

Ở ĐÂY

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.

Bộ gõ AVIM-Reloaded