Home » Featured, Tạp Ghi

Thi Phương – CÂU CHUYỆN NỬA THẾ KỶ TRƯỚC

6 February 2017 354 views No Comment

  • THI PHƯƠNG

Đã 50 năm, hay nửa thế kỷ, đã trôi qua từ năm 1967, một năm được xem đã đánh dấu một chuyển biến cực kỳ thuận lợi cho Miền Nam trong cuộc chiến chống xâm lăng của Miền Bắc. Năm 1967 gần như là năm nằm ngay chính giữa cuộc chiến bất hạnh của chúng ta. Ngẫm nghĩ lại, cuộc chiến dài đến khiếp. Mười lăm, mười sáu năm! Năm kết thúc bi đát là 1975 chúng ta đều đã biết. Năm khởi đầu có lẽ phải tính từ khi Việt Cộng ở vùng quê bắt đầu hoạt động khủng bố đây đó từ năm 1959 (?). Năm 1967 là một năm đáng nhớ, nhưng hiện nay trong chúng ta đây, họa may những người trên 70 mới có thể biết được ít nhiều nhũng gì đã xảy ra trong năm đó. Mà những người trên 70, đúng là “cổ lai hi”. Và trên 70 mà còn đủ trí nhớ để không quên chuyện xưa tích cũ, còn được bao nhiêu người? Bởi thế mà được nghe kể lại năm lịch sử đó, cùng mẫu chuyện của một thanh niên lớn lên trong năm đó, chúng ta có cảm tưởng đã tìm được phần nào căn cước của mình mà lâu ngày để quên ở một góc nào đó trong nhà kho quá khứ bộn bề  chẳng ai đụng tới.

Năm 1967 là một năm trước khi có biến cố tai hại Tết Mậu Thân, Việt Cộng phải mở cuộc tổng tấn công tổng khởi nghĩa vào đầu năm 1968, xem rằng đây là cơ hội cuối cùng cho chúng mưu sự tồn tại, bởi vì hơn hai năm sau khi Mỹ chính thức đưa quân chiến đấu đến miền Nam (từ tháng ba năm 1965), quân địch đã bị đẩy lùi trên tất cả các mặt trận. Vào đầu năm 1967, theo tác giả Ron Milam của Đại học Lubbock, có khoảng 490.000 lính Mỹ đóng ở Miền Nam – cùng 850.000 binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa, Nam Triều Tiên và những đồng minh khác như Thái Lan, Úc Đại Lợi, Phi Luật Tân…. Những người lãnh đạo tại Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài của Mỹ đã nghĩ rằng lực lượng này phải đủ sức tiêu diệt Việt Cộng, áng chừng chưa đến 50.000 người tại chỗ nhưng đến cả 200.000 thuộc thành phần “sinh bắc tử nam”, xâm nhập từ Miền Bắc theo đường mòn Hồ Chí Minh theo kiểu “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”. Có người có lẽ còn ngây thơ, vì không hiểu chiến tranh chống du kích, chống nổi dậy, nên hỏi tại sao lực lượng chúng ta đông như thế mà không tiêu diệt được địch. Ta phải có mặt ở nơi nơi trong khi địch sống trong bóng đêm như ma quỷ, chỉ tập trung xuất hiện một lúc rồi biến mất.

Sự dấn thân của Mỹ vào cuộc chiến tranh chống cộng ở Miền Nam với khoảng gần 500.000 lính Mỹ và Đồng Minh vào thời điểm đó tham dự cũng đã vực dậy nền kinh tế mà sản xuất nông nghiệp đang suy đồi. Nhờ viện trợ Mỹ với Chương trình CIP (Commercial Import Program) và PL 480 (Public Law 480 về nông sản thặng dư ở Mỹ) – ước chừng 500 triệu đô la một năm – và vửa nhờ chi tiêu của lính Mỹ (cả tỷ đô la đỏ một năm), nền kinh tế tiêu thụ với hàng nhập tràn ngập đã làm cho khu vực thành thị trở nên đông đúc, nhộn nhịp chưa từng có.

Năm 1967 cũng là một năm chính trị ở Saigon bắt đầu ổn định, sau ba năm “hậu Đệ nhất Cộng hòa” hầu như vô chính phủ, hỗn loạn ngu xuẩn vì tướng tá tham quyền và một số lãnh đạo tôn giáo sân si, ám muội. Vào tháng tám năm 1966, Miền Nam tổ chức bầu cử Quốc Hội lập hiến với 117 dân biểu, và theo hiến pháp được thông qua ngày 22-12 năm đó, thì năm 1967 có bầu cử tổng thống, Thượng viện và Hạ viện. Năm 1967 có thể nói Miền Nam có một cuộc bầu cử dân chủ đặc biệt, cho dù đương nhiên có những câu chuyện tai tiếng này nọ của mấy ông tướng tá muốn lèo lái bầu cử. Trên cả nước, từ Bến Hải đến Cà Mau, người ta nô nức ra tranh cử (các đảng phái chính trị, các tôn giáo, các địa phương và quân nhân), và người dân cũng nô nức đi bỏ phiếu nhờ chính người ra tranh cử vận động.  Những nhóm “tranh đấu” (hẳn phải có nhóm do Việt Cộng giật dây) nay cũng hiểu rằng họ không còn có thể xuống đường mãi nữa vì người dân đã ngấy. Những thành phần chống cộng triệt để hay “cấp tiến” đều chen vào được cả hai viện của Quốc hội. Những ứng cử viên được Phật giáo đưa ra hay Thiên Chúa giáo ủng hộ đều có cơ hội trở thành người dân cử. Người dân nam bộ đã có dịp xác định được thế lực “Phục hưng Miền Nam” – không ít người sau đó chạy theo Dương Văn Minh hay đưa ông tướng chỉ giỏi nghề trồng hoa lan này ra làm bông xung. Và xã hội cũng cho thấy sự tôn trọng giá trị “sĩ nông công thương” qua bầu nhiều trí thức vào chốn quan trường. Trong bầu cử tổng thống, có đến 11 liên danh ứng cử, cho thấy người ta tin ở bầu cử tự do. Lúc ban đầu, có đến 17 liên danh, và hai lien danh bị loại mà chúng ta còn nhớ là của Dương Văn Minh và Tiến sĩ Âu Trường Thanh. Liên danh quân đội – cuộc hôn nhân bất đắc dĩ giữa  hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ – đắc cử, nhưng chỉ được khoảng 35% số phiếu – không dám làm những tỷ lệ huyễn hoặc như 95% chẳng hạn. Bầu cử tự do dân chủ đến mức một ngưòi xa lạ như luật sư Trương Đình Dzu bỗng chốc trở thành “anh hùng dân tộc” với 17% số phiếu – đứng thứ nhì. Người ta nói ông được mớm chủ trương hòa giải, được Việt Cộng vận động người dân ở quê bỏ phiếu phá bầu cử (giống như Sa hoàng Putin trong cuộc bầu cử năm ngoái ở Mỹ).

Đúng là Miền Nam đang đứng trước một vận hội mới đầy hứa hẹn sau cuộc bầu cử này nếu không có Tết Mậu Thân năm đó. Hân hoan trước con đường mới thênh thang, Tổng thống Thiệu áo gấm về làng, làng đây là quê vợ ở Mỹ Tho, vinh qui bái tổ. Xem chừng là một nhà quân sự nhưng ông chẳng cảnh giác bao nhiêu trước khả năng Việt Cộng có thể làm một vụ Mậu Thân. Thậm chí sau khi sự việc xảy ra, ông còn chờ trực thăng Mỹ đến rước đưa trở lại Saigon cho an toàn.

Bởi thế, năm 1967 là một năm những người đã lớn lên ở miền nam vào thời đó còn có thể nhớ rõ để tiếc nuối. Riêng đối với người đang viết lại trang sử này không chỉ cho thế hệ baby boom nhớ lại, mà cả lớp thế hệ trên cùng hồi tưởng để còn một chút gì để nhớ chẳng quên. 1967 càng để lại những ấn tượng mạnh mẽ không năm nào trước đây và sau đó có thể so sánh được, bởi vì trong cuộc đời nhìn lại, đó là một năm đẹp đẽ nhất, hào hứng nhất, có ý nghĩa nhất, nếu không nói là duy nhất trong đời. Trong cả bảy mươi năm qua, bất cứ năm nào cũng bị mờ nhạt rất nhiều, một phần vì tuổi già đang dần dần mất hết, mấy ai giữ được toàn vẹn trí nhớ, một phần vì cuộc đời trong hơn bốn mươi năm qua, phần vì tha phương ngay trên đất nước, tha hương nơi đất khách quê người, có còn gì đáng để nhớ để thương. Nhưng năm 1967, tuy  vẫn còn đi học và chỉ mới ngoài “20 xuân xanh”, bỗng dưng số phận xem chừng ưu đãi, một sinh viên năm thứ ba của Trường Chính trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại học Đà Lạt, chợt trưởng thành, lớn như thổi, rời khỏi cái “tháp ngà” bảo bọc những giới hạn tự nhiên của những người thường cảm thấy đủ vì ba chữ nghĩa của nhà trường, để bỗng nhiên mở tầm mắt, học hỏi, can dự, dấn thân, phiêu lưu, mạo hiểm… – khi tuổi già nhìn lại quá khứ một cách chủ quan và tự mãn như thế.

Ai đi lên cũng cần có bệ phóng – ví dụ như ông Donald Trump tổng thống mới của Mỹ cũng cần có Trump Tower. Và do đó có thể phải bắt đầu câu chuyện bằng Hội Thanh niên Thiện chí Dalat (Dalat Voluntary Youth Association) với các anh chị Nguyễn Tường Cẩm-Liên, Trần Văn Minh, Trần Khánh Tuyết, Nguyễn Khải, … đã thương mến mở đường. Và cũng chẳng thể không kể những ngưòi bạn khác như Hoàng Lan Anh, Trần Túy Nga, Trần Văn Lưu, Trần Văn Chang, Trương Duy Hào, Hồ Phán, Nguyễn Quang Tuyến, Trần Trọng Thức,… Những anh chị này (trừ chị Lan Anh) tạm thời còn đủ cả, chắc chắn cũng chẳng phản ứng gì nếu không đề cập đến họ. Nhưng không nhắc đến họ và tất cả những người bạn ở đây, thì còn ai khác để nhớ đến.

Đó là một năm người kể lại nhìn được phần nào đất nước của mình trong chiến tranh để hiểu ra rằng những gì mình đã biết được, hiểu được còn quá nhỏ, quá ít, không đáng gì so với cái mênh mông của đất nước thương yêu nhưng nhiều khi gần như đứng ngoài. Trước đó, có thể cũng có lúc chợt nghĩ đến, nhưng phần lớn ngoài tầm mắt của mình, trí tưởng tượng của mình đất nước như thế nào sống trong chiến tranh – ngoại trừ đôi lần bị chận lại ở cây số 145 sau khi qua khỏi Định Quán trên đường từ Saigon đi Dalat bởi vì Việt Cộng đắp mô cả mấy trăm thước kéo hành khách xe đò Minh Trung vào rừng để khám chân.

Một kỷ niệm vĩ đại chính là vào tháng sáu năm đó, Hội TNTC Dalat tham dự một trại công tác giúp đồng bào chạy giặc tỵ nạn ở Cam Lộ, Đông Hà (gần Bích Khê, Triệu Phong, quê nhà), Quảng Trị. Đây là lần đầu tiên tôi trở về quê hương trong tình huống oái oăm như thế – nơi này khá gần căn cứ Khê Sanh, nút chặn con đường xâm nhập của bộ đội Miền Bắc vào Nam, và Khê Sanh là một chiến trường trắc nghiệm giữa ta và địch. Việt Cộng muốn biến nơi này thành một Điện Biên Phủ của Mỹ, cho nên chúng nướng không thương tiếc cả chục ngàn lính ở nơi này, như chúng sau đó trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 đã thiêu thân cũng cả hai chục ngàn người của chúng, xác bỏ ở Cổ Thành không thèm đếm, không thèm tìm kiếm ngay cả sau này. Trong khi đó, Mỹ không thèm rút, cương quyết cho địch hiểu rằng Quảng Trị vị thế rất khác Lai Châu, Mỹ với Đệ thất hạm đội ngoài khơi rất khác với Pháp ngu xuẩn 14 năm trước. Ở Cam Lộ, pháo nghe đì đùng đêm ngày, và lần đầu tiên và duy nhất trong đời người sinh viên Dalat này biết ngủ trong hầm là thế nào. Một người Quảng Trị chưa hề biết người dân Quảng Trị phài sống điêu linh như thế nào! Cái khó cái khổ của đồng bào đúng là không kể siết: họ như đã cùng đường vì mất nhà mất cửa, tài sản hầu như trắng tay, không có đường chạy, sống ngơ ngác xơ xác. Trên đường xá Đông Hà, thành phố đúng là buồn thiu, lính Mỹ ở trần đang đứng trên các xe GMC lớn làm lại các cột đèn, nối lại các đường dây. Cái nóng Hạ Lào tràn đến, hâm hấp, hừng hực, người dân nào trông cũng nhễ nhại, tất tả… Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tận mắt cảnh khổ của người dân sống dưới bom đạn.

Sau đó, tôi và anh bạn họa sĩ Nghiêu Đề tách đoàn phiêu lưu vào Huế, đi theo con đường “Street without joy”, đến năm 1972 được đổi tên là “đại lộ kinh hoàng” (street of horror) – một con đường chắp vá, đứt đoạn từng chặp, hai bên đường người chạy loạn đứng dài, phụ nữ tay bế tay bồng. Cũng cả 15 năm tôi mới trở lại đất Thần Kinh, ngủ đò Sông Hương, ăn bún bò Mụ Rớt ở cuối đường Nguyễn Hoàng, len lỏi vào chợ Đông Ba, đi băng qua cầu Trường Tiền mười hai nhịp để nhìn nữ sinh Huế đạp xe qua cầu gió bay tà áo trắng… . Nếu nhìn lại Quảng Trị, Thành phố Huế khá tách rời chiến tranh, sống im lặng, êm đềm như dòng Hương giang êm ả, nhưng cũng không che dấu được sự bồn chồn, căng thẳng, bất an trước sự lẩn quất của địch cách đó có lẽ chỉ chừng 50 cây số ở thung lũng A-Shau phía tây nam thành phố sát biên giới Lào. Trong chiến dịch tấn công Mậu Thân vào ngày 31-1-1968, Việt Cộng đã từ căn cứ A-Shau này đánh vào thành nội, chiếm cứ và truy bức người dân, chiến sự kéo dài 26 ngày trước khi địch rút lui, sau khi gây nên vụ tàn sát thường dân lịch sử nhất trong cuộc chiến –ít nhất là 4.000 người đã bị sát hại (có điều lạ nhiều nhà nghiên cứu sử của Mỹ xem nhẹ sự kiện vốn nói lên bản chất cuộc chiến và bản chất hiếu sát của đối phương).

Thế nhưng một trại công tác ở Long Xuyên thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long đã mở ra một cảnh tượng đất nước khác hẳn. Giữa sông nước mênh mông, ruộng đồng xanh tươi bát ngát, người dân miền nam thể hiện cả ở nơi này cuộc sống hiền hòa, chất phác, bình dị, gần gũi. Bềnh bồng trên ghe thuyền trên vùng này, người ta không khỏi nhớ bài Tiếng Sông Cửu Long – Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương (Nước sông dâng cao, cá lội ngù ngờ; nước xanh xanh lơ bóng in cây dừa…)_, và có dịp trăn trở nghĩ đến những khác biệt của ba miền đất nước qua ca khúc Tiếng Sông Hồng và Tiếng Sông Hương. Miền Nam thì như thế, trung khi miền trung “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn”, và miền bắc thì triền miên trong lửa đạn: Nhớ ngày nao dân chúng lên đường, đem thịt xương ngăn giữ nương đồng, đem vinh quang thắm tô sông Hồng. Vựa lúa miền nam đúng là đây, đã nuôi cả miền nam lớn dậy và sẽ giữ miền nam đứng vững nếu quân thù bị bật gốc, bị đánh đuổi ra khỏi vùng này. Trên vùng thánh địa của Phật giáo Hòa Hảo, người dân sống yên ổn trong niềm tin tôn giáo vào Huỳnh giáo chủ nhưng cũng “cẩn tắc” trước những đe dọa của Hồ chủ tịch.

1967 cũng là một năm đánh dấu lần đầu tiên tôi mở mắt nhìn ra thế giới bên ngoài, qua chuyến đi Singapore “một mình đại diện cho cả nước Việt Nam Cộng Hòa” tham dự Hội nghị Liên hiệp Thanh niên Thế giới (WAY – World Assembly of Youth) bàn về đô thị hóa. Có một bài học rất thường thức mà người đời dễ quên: nếu không mở mắt, người ta cứ coi trời bằng vung. Tôi cần ghi nhận sự đề bạt của Hội TNTC Dalat trong chuyến đi này, cho dù hiện nay đối với tôi vẫn là một “bí ẩn” ai lựa chọn mình và tại sao có sự lựa chọn đó. Saigon, Huế và Cần Thơ đều có hội TNTC này.  Do đó, sẽ thiếu sót nếu không nói đến sự ủng hộ của những người bạn Mỹ trong IVS (International Voluntasry Service) Chris Jenkins và Dick Beard. Chris và Dick là những người Mỹ rất thiện chí muốn đến với người dân lớp dưới của Miền Nam để hiểu cuộc sống và tâm trạng của họ trong thời chiến, khác với Don Luce cũng là IVS nhưng là người đi tìm chuồng cọp ở Côn Đảo.

Singapore vào năm đó chỉ mới giành được độc lập từ Anh quốc vài năm, và mới ly khai khỏi Đại Mã Lai Á từ tháng tám năm 1965. Nhưng đất nước trẻ trung này, lúc đó có chưa được 3 triệu dân, đã tạo một quanh cảnh thịnh vượng, nề nếp văn minh, trật tự, kỷ luật choáng ngợp. Đưong nhiên, đó là nước ngoài đầu tiên tôi biết. Nhưng Singapore đúng như một thiên đường – một khi đã học hay đã đọc trên sách vở hay báo chí về những nước kém mở mang về cả chính trị và kinh tế ở thế giới thứ ba. Hơn 70 nước dự hội nghị này, và cũng là điều đặc biệt khi tôi ở chung phòng với một người Do Thái và một người đến từ Yemen. Vào lúc đó, trên thế giới cuộc chiến tranh ở Việt Nam là nổi bật nhất, cho nên người ta nhìn tôi một cách “hiếu kỳ”. Trong thảo luận nhóm, người ta cứ muốn nghe tôi nói Miền Nam đô thị hóa như thế nào. Tôi biết nói gì? Thủ tướng Lý Quang Diệu là nhân vật cao cấp nhất trên thế giới đã bắt tay tôi. Tôi nhìn đến sự thoải mái của người khác, và cả cách họ nhìn mình, và tôi nói lên “nỗi buồn chiến tranh” trong bài phát biểu trước hội nghị của mình. Cho đến giờ phút đó, tôi vẫn nghĩ mình nắm mơ. Bây giờ nghĩ lại, cũng vẫn tưởng mình nằm mơ: Làm sao tưởng được bỗng dưng một ngày nào đó không đợi không chờ, mính bỗng dưng dám đứng trước một hội trường mênh mông, rộng lớn, hiện đại, phía đưới là cử tọa đến từ bao nhiêu nước, và đọc một bài “diễn văn” bằng tiếng Anh nói về một đề tài mình chẳng có một kiến thức gì cả: đô thị hóa ở những nước kém mở mang. Đúng là “điếc không sợ súng”. Hay đúng hơn nữa: chẳng biết gì cả mà vẫn nói được, thế mới hay! May mà Miền Nam đang ở vào thời chiến tranh, làm gì có chuyện đô thị hóa mà nói! Cho nên chỉ nói lý do vì sao không nói chuyện đô thị hóa ở đất nước của mình – như một excuse và làm cho người người thương cảm!

Năm 1967 chỉ có 365 ngày mà có bao nhiêu chuyện đáng ghi nhớ. Ví dụ như tình nguyện làm việc trong bệnh viện nằm sâu trong miền rừng núi Dampao của những người trẻ thiện nguyện, nhưng chỉ làm được ba ngày thì từ giã vì người dân miền thượng không nói tiếng Việt! Đó cũng là năm người kể chuyện này tập tểnh trong sinh hoạt chính trị, đi vận động cho một liên danh tranh cử thượng viện trong đó có các thầy của tôi như Giáo sư Mai Văn Lễ, Nguyễn Như Cương… Người kể lại “thất bại”, vì người dân trên vùng cao nguyên này có vẻ không biết các thầy là ai, làm cái gì. Vả lại, đi vận động kiểu này cũng không có thì giờ, chỉ kịp phát vài ba tờ giấy và vội vã bước qua nhà khác. Có lẽ ở những nơi khác cũng thế – họa may trừ ra ở Saigon. Đó cũng là một năm tôi rời khỏi báo chí cấp học sinh và sinh viên để bước vào làng văn “chính qui”, viết một số truyện ngắn và dịch một số tác giả Mỹ đăng trên các tờ Văn Học, Nghệ Thuật, Văn… ở Saigon. Niềm vui nào cũng to lớn hơn chuyện không được nhuận bút – trừ tờ Văn của ông Trần Phong Giao.

Last but not least. Còn bao nhiêu kinh nghiệm để đời khác trong năm đó, nhưng quan trọng hơn hết trong năm 1967 là một quyết định rất sớm, quan trọng cả một đời người. Khi chỉ mới 21 tuổi. Quyết định này chỉ chia sẻ với một người. Nhưng thôi, câu chuyện phải ngưng ở đây, bởi vì càng kéo dài, càng vướng vào mặc cảm của Pascale “Le moi est haissable” (the self is hateful). Mình nói về mình nhiều quá, cũng ngượng, và người ta càng ghét thêm.

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.

Bộ gõ AVIM-Reloaded