Home » Featured, Headline, Tin Cộng Đồng, Văn Nghệ - Giải Trí, Đọc Trên Blog

Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”.

12 August 2016 546 views No Comment
  • Tuấn Khanh

Tình cờ gặp được chi Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa…  Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.

Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.

Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ. Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.

Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.

Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy.

Tôi giữ lại câu chuyện  này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẳn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẳn sàng rộng đường dư luận. Trân trọng.

Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã như thế nào?

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân. Bỗng có người nói: “Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở đường Thống Nhất”.

Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán bộ khác bước ra nói: “Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công, ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy”. Tôi hơi bực nói : “Nhưng sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo không hà, chúng tôi không hiểu gì cả”.

Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân Sơn chào từ giả với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.

Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói “Chị ơi em buồn quá”. Chị Kim Cương  kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc  vỗ về: “Đừng buồn em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường”. Tôi sững sờ nhìn chú Tùng Lâm. Chị Kim Cương nói lớn “Mọi người vào trong, đến giờ họp. Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào đầu bàn chủ tọa. Chị dõng dạc tuyên bố: “Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành lập Biệt Đội Văn Nghệ …”. Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi: “Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con”.

Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt, tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng sụp đổ ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước ???

Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : “Kim Tuyến, con đi đâu đây?”. Tôi chào Bác và trả lời “Dạ, đây là nhà con”. Bác nói tiếp: “Bác vào thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời”. Tôi chỉ còn biết đáp: “Dạ…Dạ…tại con bịnh”.

Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng hoàng, “cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con”, vì tôi đang mặc quần ống loa và áo thun màu vàng  với chữ Have a nice day, áo bỏ trong quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn luôn Má Bảy.

Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó như thế nào?

Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi ngồi chồm hỗm trên salon và nói là “Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)”. Lần lượt cán bộ, rồi tới  ‘Cách Mạng 30’ (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4) kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. Họ bảo: “Chị là nghệ sĩ nên sẽ có tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng. Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn cho một ngày… “.  Tiền lương thì không có.

Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát và diễn tả bằng chân:  “Ta lên giây đàn… từng tưng…”. Mọi người nhìn theo anh nầy, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên, và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản. Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.

Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm hỗm có cái lỗ ?…

Hoàn cảnh chị thì như vậy, nhưng bạn bè quen biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?

Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà, họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: “Chị này ở một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta vậy?”  Họ đáp “À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi”. Tôi chợt nhớ đến chị bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: “Mấy gia đình vợ con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở không?”.  Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: “Chúng đã tiếp tay  cho bọn Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở”. Tôi hỏi: “Vậy ai sẽ ở?”. Hắn đáp: “Chúng tôi, những người có công với cách mạng”. Tôi nói tiếp: “Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các anh nên che chòi ở, thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ Ngụy để lại”.

Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi.  Em có vẻ ngạc nhiên nói: “Trời ! Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên không biết em”. Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng, xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi. Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: “Họ đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa lắm…Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị ra”. Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký vào.

Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước 1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: “Nếu thương em, xin anh về nói với họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R nầy mà em bị lên tăng xông, bệnh gần chết”.

Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi chồm hỗm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và yêu cầu tôi hát tân cổ bản “Những Đồi Hoa Sim”, rồi “Tình Đầu Tình Cuối”, và “Tình Đời” song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và hài kịch. Vãn hát xong, thì  Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán bộ với giọng Bắc nói: “Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế ? Ngoài Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu nữa nhé”.  Tôi nghĩ thầm: “Danh hài mà không cho diễu là sao?”. Mọi người yên lặng, tôi lên tiếng: “Xin lỗi anh, anh tên gì ?” Anh ta đáp: “Chị cứ gọi tôi là anh Ba”. Tôi nói tiếp: “Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm”. Anh Ba nhìn tôi lên giọng: “Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy”.  Trước khi ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói: “Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài nầy”.  Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói : “Chú Lâm, chắc con nghỉ hát”. Các em trong ban nhạc nhốn nháo: “Chị Tuyến về, tụi em cũng ôm đàn về luôn”.

Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào … Hai chú cháu gục đầu vào nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách vượt biên.

Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy  TV phát hình vở cải lương hồ quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo đầm Liên Sô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải chào cờ của Liên Sô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca sắc máu kiểu Cộng Sản “Thề phanh thây uống máu quân thù”.

Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì đáng nhớ vào thời điểm đó?

Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ : “Thăm thẳm chiều trôi… khuya anh đi rồi sao trời đưa lối…” tiếng hát đầy xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và chiếc áo thung cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát…Tôi xúc động rơi nước mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku, Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh v.v… Hình ảnh quá đau xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.

Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình?

Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị lật  vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.

Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh.  Chị Túy Hồng là người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến… hát cho các phòng trà, vũ trường, đại nhạc hội… thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi THơ, trình diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc…

Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại?

Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973. Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 75 rất khó nghe.

Hầu như những người Bắc 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn. Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ: “Quyết tâm làm sạch đường phố”… hết ‘quyết tâm’ này đến ‘quyết tâm’ kia, hết ‘phường văn hóa’ đến ‘khóm văn hóa’, mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản.  Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.

Chị chọn lựa ra đi và thật sự không hối tiếc? Được biết chế độ mới ở Việt Nam cũng nhiều lần mời chị trở lại sân khấu và sống với nghề như cũ. Thử nghĩ lại, chị ra đi chỉ vì bất mãn tạm thời hay có thêm những kinh nghiệm nào khác?

Sau 10 năm định cư trên nước Mỹ tôi mới nộp đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ. Ngày tuyên thệ tôi thấy lòng ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình cũng có một quê hương, tại sao hôm nay mình phải xin được trở thành công dân của một nước khác không cùng màu da? Nước mắt tủi hờn lại có dịp rơi.

Sau khi quyết định nghỉ hát tại Việt Nam (1975), tôi không theo dõi các chương trình TV và ít giao thiệp, nên không rõ các sự việc xảy ra cho các nghệ sĩ đồng nghiệp ở Việt Nam. Kỷ niệm đáng nhớ trước khi ra đi là có một ngày anh Nhật Trường đến nhà tìm tôi để mời tôi hát cho anh lưu diễn miền Tây, nhưng tôi bận rộn lo chuyện vượt biên.  Một kỷ niệm khác là vào một buổi tối, tôi gặp Bà Năm Sa Đéc trước một tiệm phở trên đường Hiền Vương (*nay là đường Võ Thị Sáu). Bà Năm Sa Đéc (Má Năm) có đóng chung với tôi trong phim  “Đỉnh Núi Mây Hồng”.  Má Năm vừa đưa tay chỉ lên đầu vừa nói với tôi: “Tụi nó bắt Má Năm học tập cải tạo, nhưng đầu này có sạn rồi… còn lâu ! “. Ánh mắt Má Năm sáng rực nỗi  phẫn uất trong đêm tối.

Tôi có một người em kết nghĩa tên Phạm Ngọc Trảng là đệ tử của ông Anh Lân, khi viết kịch hay viết báo em lấy biệt hiệu là Vương Thế Trung. Em tiếp tục học và đã tốt nghiệp kỹ sư (Phú Thọ), tôi có dự lễ tốt nghiệp của Trảng năm 1973. Mẹ Trảng tu ở chùa Cao Đài, Ba Trảng mất sớm. Một ngày nọ (1975), Trảng ghé nhà tôi và cho biết em đang hoạt động cho Phục Quốc Quân tại Tây Ninh, tôi gởi cho em một số tiền để em hoạt động. Năm 1978 tôi được tin Trảng đã bị bắt.

Năm  1983, soạn giả Trần Trung Quân từ Pháp sang mời tôi thu hình vở cải lương “Nước Mắt Người Đi” với Dũng Thanh Lâm, nội dung kể lại cuộc đời của các chiến sĩ phục quốc anh hùng. Tôi kể chuyện tôi có cậu em kết nghĩa tên Trảng theo Phục Quốc Quân bị cộng sản bắt, không biết giờ ra sao. Bất ngờ, anh Trần Trung Quân cho biết anh có bà Mẹ hay đi chùa Cao Đài ở Tây Ninh vừa qua Pháp đoàn tụ với anh, bà Mẹ kể rằng Hiền Tài Phạm Ngọc Trảng hoạt động phục quốc bị cộng sản gài bắt và đưa ra xử trước tòa án nhân dân. Cộng sản kết tội Phạm Ngọc Trảng là phản động. Trảng hiên ngang hét lớn: “Tôi không phản động, Hồ Chí Minh mới là kẻ phản động”. Trảng bị bắn chết ngay tại chổ. Anh Trần Trung Quân nói anh đã đưa câu nói này của Hiền Tài Trảng vào trong vở tuồng do Dũng Thanh Lâm đóng vai chiến sĩ VNCH. Tôi  lặng người đau đớn nát cả lòng, nhớ đến hình ảnh Trảng đạp xe đạp lộc cộc đến chỗ tập kịch. Tôi đề nghị giúp Trảng mua xe mobilette để làm phương tiện di chuyển . Trảng hứa trả lại sau khi ra trường làm việc. Tôi thương em như thương chính tôi vì nhớ cảnh tôi phải bỏ dở việc học để đi hát kiếm tiền phụ giúp Cha Mẹ nuôi các em, khi Ba tôi gặp khó khăn tài chánh vì Việt Cộng liên tục đắp mô đặt mìn trên tuyến đường Sài Gòn – Vĩnh Bình, làm cho chiếc xe đò của Ba tôi không hoạt động được. Tôi nói Trảng cứ yên tâm, tôi tặng Trảng vì nghèo, mồ côi cha, hiếu học, xem như tôi đóng 2 show kịch TV không lãnh thù lao. Trảng cảm động rưng rưng nước mắt.

Năm 1995, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Tiếc Thương ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa gọi điện thoại tìm tôi. Anh cho biết anh có 1 cô bạn là nữ quân nhân vừa qua Mỹ đang ở Boston đi diện HO có biết một số tin tức về Nguyễn Văn Trảng.. Tôi hẹn gặp chị tại nơi anh Thu cư trú ở Garden Grove , California. Chị  cho tôi biết là có 1 thời gian ngắn chị bị giam chung với Trảng,  Trảng thường nhắc đến Kim Tuyến và nói nếu chị ra được khỏi tù thì nhờ chị tìm gặp chị Tuyến, nhắn rằng em lúc nào cũng thương chị Tuyến. Nhưng tiếc thương thay cộng sản đã giết Em. Anh Nguyễn Thanh Thu có ý định tạc một bức tượng của Trảng, nhưng không thành vì lúc đó không ai có được một bức hình của Trảng. Chắc anh Nguyễn Thanh Thu còn nhớ câu chuyện của Trảng. Tôi mong được gặp lại chị nữ quân nhân mà tôi đã gặp 20 năm trước. Nhớ đến Trảng tôi cảm thương và liên tưởng đến các thanh niên nam nữ trẻ tuổi như Trảng đã anh dũng tham gia phong trào Phục Quốc bị tra tấn, tù đày và sát hại. Tôi có một ông cậu ruột (cậu Lữ Minh Bạch) là một sĩ quan hải quân VNCH, cũng hoạt động phục quốc, đã bị cộng sản bắt và bị kết án 18 năm tù.

Tôi đã khóc khi đọc những bài viết của những người Tù chính trị sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO kể về những nhục hình mà những người Cộng sản đã trả thù tàn độc , tôi lại càng căm thù chủ nghĩa Cộng sản.

Sau một thời gian sống và làm việc ở Mỹ, chắc chị rồi cũng dần dần gặp lại ít nhiều các đồng nghiệp trong Việt Nam qua Mỹ du lịch hoặc biểu diễn, cảm giác của chị thế nào?

Bận rộn với gia đình và các sinh hoạt văn nghệ ở Mỹ, nhưng tôi vẫn thường liên lạc với chị Như Mai và Kim Hoàng vì có mối thân tình từ lúc chị mời tôi đóng vai chánh trong các vở kịch và tuồng cải lương trên TV, đài phát thanh và đóng  phim “Vực Nước Mắt”. Lúc chị Như Mai điều hành Chùa Nghệ Sĩ, tôi có trợ giúp cho chi phí xây một bức tường quanh nghĩa trang nghệ sĩ. Năm 1993, tình cờ tôi được biết qua chị Như Mai là Lê Duy Hạnh, chủ tịch Hội Sân Khấu trong Việt Nam, đang có kế hoạch giao lưu văn hóa. Bắt đầu họ sẽ gởi một hai ca nghệ sĩ ít hoặc không bị chống đối đến Mỹ hát trước để tránh bị biểu tình phản đối, sau đó họ sẽ tiếp tục gởi tiếp nhiều ca nghệ sĩ khác ra hải ngoại. Chị Út Bạch Lan đến Mỹ trước tiên. Cô chủ nhà hàng Anh Thy và cô Sáu Châu gọi báo cho tôi biết và muốn tôi cùng gặp chị  Út Bạch Lan. Tôi đến nhà hàng Anh Thy, nhìn thấy anh Duy Khánh và Lâm Tường Dũ, hai anh đưa cho tôi xem tờ quảng cáo quay roneo có hàng chữ: Tái ngộ sầu nữ Út Bạch Lan… với sự bảo trợ của  Duy Khánh, Kim Tuyến, Lâm Tường Vũ. Họ tự động ghi tên tôi vào thành phần ban tổ chức mà không hề hỏi xem tôi có đồng ý không. Tôi nói: “Tôi chỉ muốn đến thăm chị Út Bạch Lan như một đồng nghiệp đàn em chào mừng chị, nhưng tôi không muốn có tên trong danh sách bảo trợ hay ban tổ chức, dù rằng tôi thương mến chị Út Bạch Lan”. Sau đó tôi được biết  nhà hàng Seafood World từ chối cho thuê để tổ chức văn nghệ vì ngại sẽ có cuộc biểu tình chống đối, nên tất cả kéo về tổ chức tại quán Anh Thy, một nhà hàng nhỏ hơn.

Từ năm 1993 khi được biết cộng sản phát động kế hoạch giao lưu văn hóa, tôi có suy nghĩ nếu tiếp tục hoạt động văn nghệ thì vô tình tôi tiếp tay cho cộng sản thực hiện ý đồ ru ngủ và đánh phá cộng dồng người Việt tỵ nạn. Tôi đã bất hợp tác từ Việt Nam và đã vượt qua quá nhiều nghiệt ngã, cuối cùng thoát khỏi cộng sản VN, thì tại nơi đất Mỹ này tôi vẫn có cơ hội sống bằng trí óc và đôi tay của mình. Tôi quyết định ngưng hát. Từ năm 1993 tôi chỉ hát một lần để ủy lạo các gia đình H.O. theo lời mời của anh Nguyễn Mậu Quý, chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị. Trong thời điểm đó, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã book tour bên Âu Châu và mời tôi tiếp tục trình diễn nhạc kịch Ả Đào Say, nhưng tôi từ chối. Em Chí Tâm cũng muốn tôi kết hợp trình diễn với anh Thành Được, và rất nhiều nơi mời tôi đi hát, nhưng tôi vẫn không nhận lời mời. Điều tôi suy nghĩ có thể không đúng với những người khác, nhưng tôi không thể, hay đúng hơn không muốn giải bày. Năm 2002, anh Nhật Trường mời tôi hát giúp cho 2 đêm Văn Nghệ Giã Từ Sân Khấu, tôi nhận lời vì tôi cùng quan điểm với anh khi nghe anh nói anh chống lại kế hoạch giao lưu văn hóa và không muốn đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ do cộng sản đưa sang.

Năm 2002, chị Bạch Tuyết qua Mỹ và gọi điện thoại cho tôi, chị nói muốn đến nhà thăm tôi. Tôi vui mừng vì chúng tôi đã từng đi hát chung ở đoàn Thống Nhứt lúc tôi còn là “đào con”. Chị Bạch Tuyết may mắn giờ chót được thay thế vai của chị Diệu Hiền trong vở “Đẹp Duyên Chùa Tháp” tức “Tiếng Hát Muồng Tênh” của soạn giả Mộc Linh. Hai ông bầu Út Trà Ôn và Hoàng Giang sắp xếp cho Bạch Tuyết  thế vai vì Diệu Hiền bỗng nhiên biến mất, trong khi Bạch Tuyết chưa có vai trò nào trong vở tuồng này, còn tôi được đóng vai người em gái nhỏ. Thời gian sau tôi rất thích chị đóng chung với anh Hùng Cường ở đoàn Dạ Lý Hương, vì hai người diễn rất sống động, rất thật trong các vở tuồng xã hội cùng với Ngọc Giàu, Văn Chung, Dũng Thanh Lâm, Thanh Tú.

Phương Uyên lái xe chở chị Bạch Tuyết đến nhà chúng tôi. Sau khi chụp vài tấm ảnh kỷ niệm, tôi mời chị và Uyên đi ăn tối tại restaurant COCO. Chị bảo là chị ăn chay và chỉ ăn được món nào có tôm. Tôi tưởng chị là người Công Giáo.  Tôi hỏi thăm về tin chồng chị là ông Đức bị bắt và bị Việt Cộng tịch thu tài sản, và chắc chị khổ  với Việt Cộng vì ngày xưa chị có bức hình đội nón sắt có hàng chữ “Bỏ Bom Hà Nội” và chị đưa ngón tay cái lên. Chị nói ” Em ơi… ờ thì…nhưng chị không coi trọng tiền bạc, vật chất. Chị tu rồi em ơi, thỉnh thoảng chị được thầy  Thích Thanh Từ là thầy của chị, vì bận quá, phật tử đông quá, đã giao cho chị đi thuyết pháp . Vấn đề anh Đức ở tù thì khi hoạn nạn mình phải chấp nhận, khi nào trời quang mây tạnh thì hai đứa che dù đi chung”. Tôi hỏi thăm về sinh hoạt và cuộc sống của chị tại VN  thì chị cho biết chị có nhiều bạn trẻ thương yêu, các bạn này có hãng nước uống và cho chị vào một phần hùn nhỏ để sống nên chị không phải bận tâm.  Chia tay ra về tôi thấy vui cho chị vì nghĩ rằng chị đã tu đến mức đã đạt được chữ “ngộ” rồi, vì nhà cửa bị tịch thu, chồng bị bắt bỏ tù mà không oán hận. Tôi thầm nghĩ, nếu là tôi thì tôi sẽ thù ghét CS lắm.

Bạch Tuyết điện thoại cho tôi: “Chị có thằng con trai học Bang Giao Quốc Tế ở bên Anh quốc. Hôm đám cưới cháu chị không qua được, chỉ có cô em kết nghĩa là mẹ nuôi của nó đứng ra tổ chức. Chị muốn nó ra mắt cô chú đồng nghiệp cho phải lễ. Chị mời em và ông xã đến rồi tụi mình đập bồn đập trống cho vui”.  Tôi nhận lời ngay. Đến nhà hàng Palace Seafood nơi tổ chức tôi nhận thấy đây là một đám cưới vì cô dâu chú rễ mặc khăn đống áo dài theo trang phục đám cưới. Có nhiều ca nghệ sĩ đến tham dự và chúng tôi cùng ca hát đóng góp thật sôi nổi với MC Trần Quốc Bảo. Cô dâu Mỹ trông khá xinh xắn dễ thương. Trước khi tiệc tàn, chị đến siết tay tôi và hẹn đến chơi nhà tôi vài hôm trước khi về lại Việt Nam.

Một buổi chiều, trên đường đến rước chị, chúng tôi ghé mua tờ Việt Báo. Tôi giở tờ báo ra xem thì giật mình khi thấy hình chị Bạch Tuyết đang quỳ lạy khán giả trên sân khấu tại San Jose với hàng tít to: “Bạch Tuyết đã quỳ lạy khán giả vì bị biểu tình phản đối”. Chúng tôi rước chị ở khu mobile home trên đường Bolsa. Trong khi ông xã tôi đổ thêm xăng tại góc đường Brookhurst và Hazard thì chị cầm tờ Việt Báo lên đọc rồi chị nói lớn: “Cũng thằng Mỹ nữa”. Tôi nói : “Chuyện gì vậy chị?”. Chị tiếp: “Thằng Mỹ không có tư cách gì để lật đổ chế độ Taliban”. Tôi hỏi: “Sao vậy chị ?”. Chị nói “Em ở Mỹ lâu mà em không biết gì sao Tuyến, thằng Mỹ làm giàu nhờ bán vũ khí, nó muốn quậy lên để bán vũ khí”. Trời ơi, sao luận điệu và giọng nói này của Bạch Tuyết giống y như phát ngôn viên Việt Cộng Phan Thúy Thanh mà mỗi sáng lái xe di làm tôi hay nghe tin tức từ đài VOA và BBC.

Về đến nhà, chị cầm tay tôi xem, thoạt đầu, tôi nghĩ chị biết coi bói. Chị hỏi : “Tuyến, em có bao nhiêu căn nhà?”. Tôi đáp: ” Một căn nhà mà còn trả chưa xong đây chị”. Chị lại hỏi: “Em có bao nhiêu tiền trong nhà băng?”. Tôi ngạc nhiên với 2 câu hỏi này. Chị bảo tôi về Việt Nam chơi và ở với chị. Tôi nói: “Em ghét Việt Cộng. Vượt biên suýt chết rồi chị”. Chị nói: “Thôi mà em, đừng nghĩ vậy, chế độ bây giờ tốt đẹp hơn chế độ trước nhiều lắm”. Ông xã tôi bất bình nói: “Chị nói chế độ bây giờ tốt đẹp tại sao sau khi chấm dứt chiến tranh họ lại bắt sĩ quan, công chức và những nhà trí thức VNCH giam cầm đày ải bỏ đói cho đến chết trong các trại tù cải tạo?”. Chị lại nói: “Anh không biết chứ Tuyết vô thư viện bên Anh đọc sách, có nhiều nước tan chiến tranh rồi họ đem bắn bỏ hết, rồi ai làm gì họ”. Tôi bực mình nói: “Tốt đẹp gì chị, chế độ gì không có tự do tôn giáo, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị nhốt vào tù, Hòa Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế”. Bạch Tuyết nói: “Ai biểu sống trong chế độ của người ta mà chống đối thì là chuyện đương nhiên”. Tôi thất vọng ở tầm kiến thức nhỏ hẹp lệch lạc và lối lý luận sặc mùi cộng sản của ‘tiến sĩ’ Bạch Tuyết. Chị còn hết lời ca tụng tâng bốc Nguyễn Minh Triết  nói anh ta giỏi đủ mọi thứ, trong khi ở thời điểm đó Nguyễn Minh Triết còn hoạt động ở Sài Gòn và tôi chưa biết anh ta là ai.

Khi cuộc bàn luận quá căng thẳng tôi đổi đề tài để nói về văn nghệ. Tôi nói “Má em hay  xem cải lương, thỉnh thoảng em cũng xem  và thấy Tài Linh diễn xúc động, chắc Tài Linh hiền lắm hả chị?”. Bạch Tuyết nói : “Những người nổi tiếng không ai hiền hết em”. Rồi chị kể về anh Hùng Cường, chị bảo là Hùng Cường yêu chị lắm và muốn cưới chị nhưng chị từ chối (?). Chị không biết rằng trong thời gian sống ở Mỹ anh Hùng Cường rất thân với chúng tôi và hay kể về những cuộc tình của anh, dĩ nhiên trong đó có Bạch Tuyết, anh Hùng Cường đã có mối quan hệ sâu đậm từ Bạch Tuyết ra sao, và chị đã năn nỉ anh thế nào. Tôi nghĩ nếu Hùng Cường còn sống tôi sẽ gọi anh đến để nghe Bạch Tuyết nói dóc. Đêm khuya quá, chẳng lẽ tôi đẩy Bạch Tuyết ra khỏi nhà, còn đưa về thì tôi mệt rồi sau một ngày dài làm việc.  Chị hỏi tôi có muốn gởi tiền giúp Chùa Nghệ Sĩ không, tôi nói đã giúp rồi, và lần này chỉ gởi ít tiền tặng Má Bảy Phùng Há.

Trước đây theo lời kêu gọi của Má Bảy và 2 chị Như Mai Kim Hoàng, Chùa Nghệ Sĩ không có rào nên thỉnh thoảng phát giác ra mồ mả bị đào bới vì họ muốn kíếm vàng bạc, đồng thời số nghệ sĩ già không nhà cửa phải sống lang thang, nên yêu cầu chúng tôi giúp đỡ tiền xây rào và mua tôn lợp phía sau chùa cho các cô bác có chỗ tạm trú. Chúng tôi đã gởi tiền giúp.  Sau đó chị Như Mai cho biết ông Võ Văn Kiệt chấp thuận cấp cho 1 miếng đất ở quận 8 để xây Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Tiền chúng tôi đã gởi, chị Như Mai lo xây rào và trùng tu trong Chùa vẫn còn dư. Tôi yêu cầu chị Như Mai bỏ số tiền đó vào bank để lấy lời lo thuốc thang cho những nghệ sĩ già đau yếu, còn Nhà Dưỡng Lão hãy để cho chính quyền cộng sản lo.

Tôi không bao giờ quên ơn Má Bảy Phùng Há, người mời tôi đóng nhiều vở tuồng trên TV, đã chỉ dạy thêm cho chúng tôi từ anh Thanh Sang đến anh Thành Được. Má Bảy cũng từng nói: “Mấy ổng muốn mời Má làm chức này chức kia, nhưng  Má nói Má không thích làm chính trị, Má chỉ thích làm Văn Nghệ mà thôi”. Tôi lấy 100 dollars bỏ vào bao thơ trao cho chị Bạch Tuyết nhờ chị đem về trao cho Má Bảy. Vài tuần sau tôi gọi điện thoại thăm Má Bảy và hỏi xem Má Bảy có nhận được tiền không. Lúc đó có mặt ông bầu Xuân, tôi nghe tiếng Má Bảy nói lớn: “Ông Xuân ơi, Kim Tuyến nói có gởi Bạch Tuyết đem về cho tôi 100 mà sao không thấy?”. Ông Xuân nói: “Bạch Tuyết bảo sung vào quỹ của Chùa”. Tôi không hiểu tại sao chị Bạch Tuyết lại làm khác lời dặn của tôi, để cuối cùng Má Bảy không nhận được gì cả !

Một lần nọ anh Hùng Cường dẫn anh Sáu Thanh đến nhà thăm chúng tôi. Anh Sáu Thanh là 1 đại thương gia trước năm 1975, chính anh là người cung cấp toàn bộ tiền bạc và phương tiện để thành lập đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết . Sáu Thanh giao đoàn cải lương cho Hùng Cường và chị Bạch Tuyết vì anh rất bận với các công ty lớn của anh. Đoàn cải lương này là một đại ban, được khán giả nhiệt tình ủng hộ, lần trình diễn nào cũng bán hết vé, thế mà Bạch Tuyết khai lỗ. Trước mặt chúng tôi, anh  anh Sáu Thanh nói với Hùng Cường: “Anh lập đoàn hát này cho chú mầy mà chú mầy ham chơi quá, để cho con Tuyết lộng hành, nó đưa người nhà của nó vào, nó kiểm soát mọi chi thu, cứ khai lỗ, để cuối cùng phải giải tán đoàn hát”.

Ngày 27/10/2002 Bạch Tuyết tổ chức ra mắt CD Kinh Pháp Cú chuyển thể cải lương tại Chùa Việt Nam trên đường Magnolia của Thượng Tọa Thích Pháp Châu. Ông Thượng Tọa này từng có tai tiếng vì đã lăng nhăng tình ái với một nữ Phật tử trẻ. Cuộc điện đàm hẹn hò dâm dục ở hotel của ông sư này với cô gái đã bị thu băng toàn bộ. Vì vậy cho nên truyền thông và báo chí hải ngoại kêu gọi biểu tình chống Việt Cộng Bạch Tuyết và Thượng Tọa Pháp Châu. Hôm đó có rất nhiều người đến biểu tình, trong đó có tôi, trước cửa chùa. Người biểu tình cho phát thanh cuốn tape dâm dục của Thượng Tọa Pháp Châu và hô đả đảo Bạch Tuyết. Tôi nghĩ nếu anh Hùng Cường còn sống chắc anh cũng sẽ đến biểu tình chống Bạch Tuyết, vì anh là người rất căm thù cộng sản. Dù rằng khi còn sống anh đã từng kể chính anh là người giới thiệu anh Đức ( một “Việt Kiều Yêu Nước” tại Pháp) cho Bạch Tuyết sau vụ Bạch Tuyết bị vợ của ĐT Hoàng Đức Ninh làm nhục.

Trong một dịp thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và đi ăn tối với anh, chúng tôi có kể cho anh nghe về Bạch Tuyết và Kim Cương. Trong một lần nói chuyện trên Radio, anh Thiện đã có đề cập đến Việt Cộng Kim Cương và Bạch Tuyết. Tôi quý mến anh Nguyễn Chí Thiện vì tư cách và sự dũng cảm của anh. Chỉ vì can đảm dám nói lên sự thật của lịch sử và sự thật tàn ác của chế độ cộng sản mà anh bị gần 30 năm tù ở miền Bắc. Trong tù anh vẫn đứng thẳng, hiên ngang làm thơ vạch trần sự dã man của chế độ và dám chửi thẳng Hồ Chí Minh.

Những gì tôi kể về Bạch Tuyết là hoàn toàn sự thật, không thêm bớt, không trái với lương tâm. Một số đông trong đó có tôi vẫn còn nhiều hoài nghi về Bạch Tuyết:

– Bạch Tuyết không học Trung Học, không học Đại Học  thì làm sao có bằng Tiến Sĩ  ?

– Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu.

– Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức thì làm Luận Án Tiến Sĩ  bằng tiếng gì ? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt ?

– Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường Đại Học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng Tiến Sĩ giấy.

– Bạch Tuyết thù ghét Mỹ, vậy tại sao thích đi sang Mỹ, cho con học ở Mỹ, đi làm ở Mỹ, lấy vợ Mỹ. Phải chăng Bạch Tuyết muốn tìm một “bãi đáp an toàn” sau này ở  Mỹ ?

Những câu chuyện của hôm qua bao giờ cũng thật xúc động, dù chỉ là kỷ niệm. Nhưng có khi nào chị nhìn thấy sân khấu ở quê nhà, sự rộn rịp hoặc giàu có của giới đồng nghiệp mà chạnh lòng? Hoặc chị có lúc nào nghĩ rằng nếu chị nhượng bộ, ở lại, thì cũng đã có một cuộc sống sinh hoạt sôi nổi, nhiều thu nhập như các nghệ sĩ khác?

Sau 37 năm sống trên đất Mỹ và 41 năm miền Bắc cai trị miền Nam, tôi vẫn thường theo dõi các tin tức từ quê nhà và rất buồn khi thấy cộng sản đã tạo ra một giai cấp mới, giai cấp cán bộ, con ông cháu cha, tư bản đỏ, giai cấp này lộng hành, áp bức bóc lột người dân khốn cùng. Luân lý, đạo đức suy đồi, cuộc sống bất an, luật pháp bất minh, môi trường nhiểm độc, tham nhũng tràn đầy… Trong khi đó chính quyền lại “ác với dân, hèn với giặc” trước hiểm họa mất nước vào tay giặc Tàu.

Tôi không dùng danh từ “chính quyền” cho CSVN, vì không ai bầu cái Đảng cướp này cả . Chúng cưỡng chiếm miền Nam , áp đặt chể độ độc tài đảng trị, thì không thể dùng danh từ Chính quyền. CSVN thắng VNCH do tuyên truyền dối trá , quỷ quyệt, gian manh do HCM đem chủ thuyết ngoại lai quái đản từ Liên Sô,Trung Cộng đặt lên đầu dân VN. CSVN xem văn nghệ sĩ là bộ môn tuyên truyền hữu hiệu nhất, họ dùng nghệ sĩ để ru ngủ đồng bào quên đi tội ác mà chúng gây ra. Kim Cương là một điển hình cùng một số văn nghệ sĩ được họ sử dụng.

Tôi thấy mình đã quyết định đúng khi vượt biên rời khỏi chế độ cộng sản VN để cho gia đình và con cháu tôi có một cuộc sống an lành và tốt đẹp hơn. Tôi đã quyết định đúng khi chọn nước Mỹ, một nước tôn trọng tự do dân chủ và nhân quyền, một nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Dạ, xin cám ơn chị,
28/7/2016

Tuấn Khanh (ghi)

nguồn: Tuấn Khanh’s blog

Cải chính chi tiết từ bài phỏng vấn Nghệ sĩ Kim Tuyến

Ngay sau bài phỏng vấn nữ nghệ sĩ Kim Tuyến tại miền Nam California về đời sống và ký ức văn nghệ của bà, tôi có nhận được một lá thư từ Thái Lan từ một người quen biết đến một nhân vật được nghệ sĩ Kim Tuyến nhắc đến trong bài là ông Phạm Ngọc Trảng.

Thư đính chính tên đúng của ông Trảng là họ Phạm, tên Ngọc Trảng, chứ không phải là họ Nguyễn, tên Văn Trảng, cùng kèm theo nhiều tư liệu rất sống động để nhắc thêm về nhân vật mà nghệ sĩ Kim Tuyến nói rằng chị hết sức ngưỡng mộ.

Xin được giới thiệu lá thư này, cùng tư liệu chứng minh, như một cách góp thêm vào phần hồi ức mà nghệ sĩ Kim Tuyến đã trình bày cùng quý vị.

Xin cảm ơn anh Dương Xuân Lương vì tư liệu quý này.

TB: Trong những văn bản đã gửi lên các trang mạng, cũng đã chỉnh sửa lại cho đúng tên của người đã khuất.

===============================

Thái Lan 04.08.2016.

Kính gởi anh Tuấn Khanh.

Với tình quí mến, tôi xin anh vui lòng chỉnh lại tên anh Nguyễn Văn Trảng trong bài đăng số 9430 trên trang Basam.

Anh ấy tên là Phạm Ngọc Trảng quê quán Tây Ninh học trường Nam Trung Học Tây Ninh trước tôi mấy năm.

(Anh Trảng ra tòa và rất hiên ngang là đúng. Nhưng anh Trảng không bị bắn tại chổ mà bị kết án tử hình (khi đó tôi sống ở Tây Ninh nên biết việc anh Trảng ra tòa). Sau đó không biết họ đã thi hành án như thế nào.

Xin anh vui lòng chuyển đến chị Kim Tuyến lời cảm ơn của chúng tôi về tình thân của chị ấy với anh Trảng là một đàn anh của tôi và là một Hiền tài trong Đạo Cao Đài.

Một người quí mến anh,

Dương Xuân Lương

Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com

===============================

Thông tin tham khảo thêm:

1/- Từ Bản án Cao Đài do nhà cầm quyền cộng sản ban hành ngày 20/07/1978 (bản in từ nhà in Hoàng Lê Kha- Tây Ninh).

00Trang

2/- Từ Hòa bình chung sống biên niên (trang 216) (bản in 2013).

..(i)/-  CHÚ THÍCH TRONG CHÚ THÍCH:

Về Ông Truyền Trạng Phạm Ngọc Trấn (1910-1952).

Ông Phạm Ngọc Trấn quê làng Tân Huệ, quận Hồng Ngự Tỉnh Châu Đốc. Ông học trường College Cần Thơ, thi đỗ Diplôme (trung học Pháp). Ông có làm thơ ký cho Đầu Tộc Đạo Hồng Ngự. Sau về Tòa Thánh dạy học ở Đạo Đức Học Đường.

Ông thi đậu Luật Sự khoản năm 1935. Năm 1941 Ông vâng lịnh Hội Thánh (cùng 200 người lính đạo khác) đi lính sang Pháp để đáp lại việc Pháp cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng. Số quân của ông là 17.070…Trong quân ngũ ông có nhiều thành tích xuất sắc.

Sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt. Năm 1946 ông được trở về Việt Nam, lãnh phận sự Thánh Vệ Trưởng (Trung Tá), bảo vệ an ninh trong vùng Thánh Địa. Ông là một trong những anh tài hết lòng vì Đạo, được Đức Hộ Pháp quí mến và tin cậy. Thời gian ở Pháp ông học được cách ghi tốc ký nên khi về Tòa Thánh ông ghi lại nhiều bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp, được Đức Ngài khen ngợi. Chính ông truyền dạy cách ghi tốc ký cho nhiều tốc ký viên khác. Ông tạo được nhiều thiện cảm với những người cùng làm việc hay khi giao thiệp….

Ngày 06-7- Nhâm Thìn (25-8-1952) Ông bị Tổng Tư Lệnh QĐCĐ Nguyễn Văn Thành tổ chức bắn chết trên đường Quan Âm Các tại Ngã Năm cách cửa số 4 chưa đầy 01 km. Một anh tài của Đạo đã bị bạn đồng môn hạ sát khi mới 42 tuổi thật là đau đớn.

Đức Cao Thượng Phẩm viết về tuổi 42:

Bốn mươi hai tuổi xanh chưa phỉ…

42 tuổi với người mang hoài bão phụng sự cho đại nghiệp của Đức Chí Tôn thì quá ngắn. Chí tang bồng của kẻ sĩ còn chưa phỉ thì mũi súng bạn đồng môn đã cắt ngang mạng sống… con đường phụng sự vắng bóng một hiền nhân… Nỗi đau đớn càng lớn hơn khi chính những người như ông Thành được Tôn Sư Hộ Pháp nâng đở họ thành người có quyền thế trong xã hội rồi quay súng bắn vào bạn đồng môn, bắn vào người cộng sự đắc lực của Tôn Sư.

Đành rằng túc trái oan khiên vay trả nhau trong vô lượng kiếp; nên đã biết đạo thì chẳng dám trách Đấng Cao Xanh mà chỉ tiếc thương người anh tài vắn số trên đường phụng sự cũng là lẽ cố nhiên.

Chúng ta thương tiếc cho Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh, Ngài Bảo Cô Quân Dương Văn Giáo và hàng loạt trí thức tinh hoa của dân tộc như Ông Diệp Văn Kỳ, Ông Hồ Văn Ngà, Ông Bùi Quang Chiêu… bị mũi súng của kẻ vô lương hạ sát nhưng chí ít thì chúng ta cũng hiểu được động cơ của việc thảm sát đó.   `

Còn với ông Phạm Ngọc Trấn thì chúng ta hiểu thế nào về ác hành nầy… bởi vì ông Thành cũng là người phụng sự đạo trong trách nhiệm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài. Một đội quân có tiêu chí Bảo Sanh Nhân Nghĩa Đại Đồng đã đem lại cuộc sống yên ổn phồn vinh cho đồng đạo và đồng bào.

Ông Trấn được ân thăng một cấp, tang lễ hành theo phẩm Thừa Sử.

Con đường từ Ngã Ba Ao Hồ (nay là ngã tư) đi cập hông Viện Đại Học Cao Đài cắt ngang đường Ca Bảo Đạo, cắt Lộ Trung Tim, đi cập hông Sân Vận Động Long Hoa giáp với đường Cao Thượng Phẩm được Hội Thánh Cao Đài đặc tên Đường Phạm Ngọc Trấn.

Đức Hộ Pháp viết trong Thánh Thư Hải Ngoại số 20 ngày 25-07 Mậu Tuất (08-9-1958): ...tên Dồi đã đồng lõa tổ chức cùng tên Bay đặng ám sát Truyền Trạng Trấn do Nguyễn Văn Thành ra lịnh....

(Bay là Thiếu Tá. Ám sát ông Trấn ngày 25-8-1952, khoản một tuần sau thì “bắn Đạo Hữu Có – Xem Lời Phê Đức Hộ Pháp”)

Ngày 09-7- Nhâm Thìn Đức Hộ Pháp hành pháp xác cho ông Trấn tại Đền Thánh. Theo ông Quang Minh viết trong Tiểu sử 19 chức sắc Pháp Chánh thì Linh cữu được quàng tại tòa nhà Hiệp Thiên Đài.

Khi Đức Hộ Pháp đến dự tang lễ; đứng trước linh sàng Ngài nói cùng Hội Thánh và toàn Đạo hiện diện: “Bần Đạo xin lạy Trấn để đáp lại công nghiệp của nó đối với Đạo”. Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa nắm Đức Ngài lại và thưa: “Bạch Ngài, để Bần Tăng thay mặt Ngài mà lạy thế”. Đọc tiểu sử của Ngài Khai Pháp chúng ta cũng thấy Ngài từng khóc về việc huynh đệ giết nhau quá thảm.

@@@

Khi ông Trấn mất thì vợ ông đang có thai. Sau bà sanh ra một nam nhi được Đức Hộ Pháp nhận làm con nuôi đặc tên là Phạm Ngọc Trảng.

Ông Trảng là một học sinh rất giỏi. Ông đậu vào Trường Kỷ Thuật Phú Thọ khoa điện tử. Sau đó ông xin vào Hiền Tài và phụ trách kỷ thuật cho Đài Phát Thanh của Hội Thánh.

Theo Bản Án Cao Đài Hiền Tài Phạm Ngọc Trảng bị bắt vào tháng 12-1976 vì tổ chức lại Mặt Trận Toàn Lực Thống Nhất Quốc Gia do Đức Hộ Pháp làm chủ tịch (1955). Ông Trảng là người lãnh đạo nên bị kêu án tử hình. Nhiều người khác cũng bị án tử hình và những án tù rất nặng.

Theo Văn Tịch Pháp Nhơn Luân Chi Đạo của Ngài Hồ Bảo Đạo (trang 89) thì vụ bắt Hiền Tài Phạm Ngọc Trảng là cái cớ để chánh quyền khám xét Đài Phát Thanh, Ban Thế Đạo, nhà in Phước Thiện, văn phòng Ban Đạo Sử… là những cơ ngơi trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh và tịch thâu nhiều giấy tờ, tài liệu và sử liệu…

***/. Quan hệ của Ông Phạm Ngọc Trấn và ông Hà Minh Trí (Mười Thương) là người ám sát ông Ngô Đình Diệm năm 1957 ở Buôn Mê Thuộc.

Ngày nay trên wiki viết về ông Hà Minh Trí (sinh năm 1935) theo cách tô hồng nên nhiều sự thật đã bị che dấu.

Nhiều năm trước chúng tôi gặp người thân của Ông Trấn (ở cửa số 2, đối diện VP Cơ Thánh Vệ củ), một vài vị chức sắc hay những người biết rõ về ông Mười Thương xin tóm gọn như sau:

Trong một cuộc hành quân ở miền Tây Quân Đội có bắt một thiếu niên khoản 14-15 tuổi vì bị tình nghi là giao liên. Khi đưa về đồn Ông Trấn thấy thiếu niên lanh lợi thì thương nên lãnh ra và nhận làm con nuôi.

Khi về Tòa Thánh ông Trấn đem người con nuôi theo và cho học ở Đạo Đức Học Đường với tên Hà Minh Trí. Nhờ uy tín ông Phạm Ngọc Trấn nên thiếu niên nầy được yên ổn và liên lạc với tổ chức mà không bị phát hiện.

Năm 1957 (22 tuổi) ông Trí lãnh nhiệm vụ của cộng sản đi ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 22-2-1957. Nhiều người còn kể rõ là trước khi đi ông Trí ở Bá Nghệ Đoàn và có mượn quần áo của anh em để mặc cho tươm tất.

Ông Trí nổ súng trúng Bộ Trưởng Bộ Canh Nông Đỗ Văn Công và bị bắt. Khi bị bắt trong túi ông Trí có THẺ HỌC SINH TRƯỜNG ĐẠO ĐỨC HỌC ĐƯỜNG do ông Nguyễn Hữu Lương là Hiệu Trưởng ký.

Do vậy mật vụ của Tổng Thống Diệm lên Tây Ninh bắt ông Đốc Lương theo kiểu bắt cóc để điều tra khẩn cấp. Thời gian đó Đức Hộ Pháp đã đi Nam Vang và đề ra Cương Lĩnh Hòa Bình Chung Sống nên Ngô Đình Diệm rất căng thẳng với Đạo và Đức Hộ Pháp. Đức Thượng Sanh chưa về Tòa Thánh hành đạo (ngày 15-4-Đinh Dậu “14-5-1957” Đức Thượng Sanh về Tòa Thánh hành đạo).

Ông Nguyễn Hữu Lương (thường gọi là ông Đốc Lương) lúc đó là Lễ Sanh Phái Ngọc. Trong Lời Thuyết Đạo và Lời Phê Các Việc Đức Hộ Pháp có nhiều lần nhắc đến ông. Ngày 22 tháng chạp năm Ðinh Hợi (1948) khi đến dự Lễ Bãi Trường Đức Hộ Pháp dạy:

Mấy vị Giáo Viên nhứt là Lương, mỗi phen có lễ nơi Học Ðường, mỗi phen đến dự, nó làm cho Bần Ðạo cảm xúc... (LTĐ Q1 bài số 54).

Ông Đốc Lương là con trai thứ sáu của Ngài Thái Bộ Thanh (sau đắc phong Đầu Sư) và là con rễ Ngài Hồ Bảo Đạo đang sát cánh với Đức Hộ Pháp. Với công nghiệp và hồ sơ lý lịch như vậy cho nên Ngô Đình Diệm đối phó với ông Đốc Lương quyết liệt hơn nữa.

@@@

Trong đàn cơ tại Báo Ân Đường Kim Biên, đêm 8-2-Đinh Dậu (dl 9-3-1957). Hợi thời. Ngài Hồ Bảo Đạo có thỉnh giáo bà Bát Nương về việc ông Đốc Lương bị bắt: .…Bảo Đạo bạch hỏi vụ hai em Lễ Sanh Ngọc Lương và Thái Cảnh bị bắt đi mất tích.

– Chưa đáng lo ngại, song vận xấu hai em ấy phải chịu khổ não một thời gian ngắn rồi sẽ ra mặt công khai  đối  nại.

Chị xin lui, kẻo trễ giờ cho các Đấng. THĂNG.

@@@

Chữ Bà Bát Nương dùng là: … sẽ ra mặt công khai  đối  nại…. đã phần nào nói lên việc liên quan đến THẺ HỌC SINH của ông Hà Minh Trí có trong túi khi bị bắt ngày 22-2-1957 mà ông Đốc Lương là người ký tên trên Thẻ Học Sinh đó.

Trên wiki viết vô lý nhiều điểm chúng tôi phân tích 02 điểm sau:

*1/- Wiki viết:… năm 1948 ông Trí dùng vỏ bọc Tín Đồ Cao Đài là vô lý. Vì năm đó ông Trí mới 13 tuổi làm sao là tín đồ Cao Đài? (phải đủ 18 tuổi, có thọ lễ nhập môn và được cấp Sớ Cầu Đạo. Sớ cầu đạo có ghi người tiến dẫn, và nơi nhập môn…)

*2/- Vô Lý thứ 02:… Với giấy thông hành mang tên Hà Minh Trí, một thương gia Tây Ninh…?

Thời điểm năm 1957 có loại giấy thông hành cho thương gia ở Tây Ninh chưa? Ai cấp loại giấy nầy? Vậy tại sao mật vụ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bắt ông Đốc Lương trường ĐẠO ĐỨC HỌC ĐƯỜNG? Và Bà Bát Nương dạy:… … sẽ ra mặt công khai  đối  nại…???

Đó là 02 điều cực kỳ phi lý do chủ nghĩa tô hồng mà ra.

@@@

Ngày ông Phạm Ngọc Trảng ra tòa thì ông Mười Thương là một cán bộ công an cao cấp của Tỉnh Tây Ninh và ông Trảng bị kêu án tử hình như đã nói.

@@@

MẠNH MẪU THỜI NAY.

Đến đây chúng tôi xin cung kính đề cập đến vị MẠNH MẪU THỜI NAY.

Đó là người bạn đời của ông Phạm Ngọc Trấn là đấng sanh thành của ông Phạm Ngọc Trảng. Bà Tư Liễu (Lễ Sanh Hương Liễu).

Khi ông Trấn bị bắn chết thì Bà đang mang thai ông Phạm Ngọc Trảng. Gia cảnh không lấy gì làm khá giả bà vẫn tảo tần nuôi con ăn học nên người. Sau khi đỗ tú tài II ông Trảng thi đậu Trường đại học Kỷ thuật Phú Thọ thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Đây là một trong những trường có qui chế thi tuyển rất gắt gao thời Việt Nam Cộng Hòa.

Nhà nghèo từ Tây Ninh bà phải xuống Sàigòn mướn nhà ở, hằng ngày đổ bánh xèo bán nuôi con. Ông Trảng tốt nghiệp kỷ sư xong thì quay về Tòa Thánh phụng sự Đạo ở Đài Phát Thanh.

Bà mất năm 1984.

Một gia đình có Cha như thế, Mẹ như thế và Con như thế thiễn nghĩ là hiếm có. Hậu tấn kính dâng đôi nén tâm hương…

#: THIẾU TÁ BAY BẮN ĐẠO HỮU CÓ & VỊ THÁNH VỆ TRƯỞNG KẾ TIẾP…

Phúc trình của Tổng Tư Lịnh Quân Đội Cao Đài số 46/SL ngày 31-8- 1952.   Về việc Thiếu Tá Bay bắn Đạo Hữu Có.

.               LỜI PHÊ ĐỨC HỘ PHÁP:

Thánh Vệ Trưởng cho Quân đội biết: Dầu thế nào đi nữa bên Quân đội cũng không thể dung cho mấy Sĩ Quan đã ở nơi Thánh Vệ mà cầm súng bắn người đạo trong khi Bần Đạo đã cạn lời cầu khẩn bảo vệ sanh mạng cho họ.

Chính điều ấy Bần Đạo đã nhiều phen căn dặn mật thiết với Thiếu Tá Bay. Bay có 2 tội:

  • Một là phụ lời ký thác của Bần Đạo .
  • Hai là bắn anh em của nó.

Dù rằng Có đã hổn, Bay đủ quyền sửa trị với luật pháp. Bay chẳng còn đáng người Đạo nữa, cũng còn nhiều kẻ khác nữa.

HỘ PHÁP. (Ấn Ký).

NHẬN XÉT:

. Ngày 25-8-1952 (06-7- Nhâm Thìn) Thiếu Tá Bay thi hành lịnh của Trung Tướng Nguyễn Văn Thành Tổng Tư Lệnh QĐCĐ tổ chức ám sát ông Truyền Trạng Phạm Ngọc Trấn (Trung Tá Thánh Vệ Trưởng).

. Ngày 31-8-1952 (06 ngày sau) Thiếu Tá Bay tiếp tục bắn vào một người Đạo Hữu tên Có. Đó là tính theo ngày phúc trình (của Tổng Tư Lệnh) còn việc bắn vào Đạo Hữu Có chắc là trước đó đôi chút. Nhưng chắc chắn là sau ngày ám sát ông Trấn. Theo nội dung lời phê trên thì Thiếu Tá Bay phục vụ ở Thánh Vệ nên có cơ hội theo dõi việc đi đứng của Thánh Vệ Trưởng để ám sát.

Sau khi ông Trấn bị ám sát thì vị Thánh Vệ Trưởng kế tiếp là ông Nguyễn Văn Kiết.

@@@

Bản báo cáo kết quả học tập ngày 03-10-1978 của Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Kiết có bản ghi ông nhận nhiệm vụ Thánh Vệ Trưởng năm 1952 có bản ghi 1957. Nguyên văn như sau:

Năm 1952, được bổ về Thánh Vệ Trưởng, có lịnh Đức Hộ Pháp nghiêm cấm tất cả các lực lượng võ trang xâm nhập vào Thánh Địa như Q.Đ.C.Đ Liên Minh, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (tỉnh, quận, xã) kể cả Quân Đội Pháp và Bộ đội Việt Minh. Cấm luôn hoạt động chính trị, kể cả Việt Nam Phục Quốc Hội, cốt giữ vẹn vùng Thánh Địa là vùng an ninh của Đạo (vùng bất khả xâm phạm – Sainte garde).

@@@

Đối chiếu thì năm 1956 Đức Hộ Pháp đã đi Nam Vang và Cao Đài Liên Minh của Tướng Thế đã về với Ngô Đình Diệm từ 1955…vậy ghi năm 1957 là sai. Thiễn nghĩ ghi năm 1952 ông Kiết được bổ nhiệm Thánh vệ Trưởng sau khi ông Trấn bị ám sát là đúng./.

Kính thư.

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled weblog. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.

Bộ gõ AVIM-Reloaded